SELECT MENU

Weighted Average Cost of Capital (WACC) là gì ?

Lượt xem: 154 - Ngày:

Weighted Average Cost of Capital (WACC – Chi phí vốn bình quân gia quyền) là một cách tính toán chi phí vốn của doanh nghiệp trong đó mỗi loại vốn được cân đối tương ứng.

Ảnh minh họa: Nguồn Internet

Tất cả các nguồn vốn của doanh nghiệp, bao gồm cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi, trái phiếu

Đặt ảnh đại diện

và các khoản nợ dài hạn, được bao gồm trong phép tính WACC. WACC của một doanh nghiệp tăng lên khi hệ số beta và tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu tăng, bởi vì khi WACC tăng lên thì giá trị định giá của cổ phiếu giảm và rủi ro khi đầu tư tăng lên.

Để tính toán WACC, hệ số nhân của nhân của mỗi chi phí cấu thành nên chi phí vốn với trọng số tỷ lệ của nó và lấy tổng kết quả.

Trong đó

Re: chi phí vốn chủ sở hữu

Rd: chi phí nợ

E: giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu doanh nghiệp

D: giá trị thị trường của nợ của doanh nghiệp

V = E+D = tổng giá trị thị trường của tài chính doanh nghiệp

E/V và D/V: từng thành phần của V chiếm bao nhiêu % trong tổng số

Tc: Mức thuế doanh nghiệp

Giải thích về các thành phần trong công thức

Chi phí vốn cổ phần (Re) có thể hơi khó tính, vì vốn cổ phần không có giá trị rõ ràng. Khi các công ty trả nợ, số tiền họ phải trả có một mức lãi suất liên quan được xác định trước rằng nợ phụ thuộc vào quy mô và thời gian của khoản nợ, mặc dù giá trị tương đối cố định. Mặt khác, không giống như nợ, vốn chủ sở hữu không có giá cụ thể mà công ty phải trả. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là không có chi phí vốn.

Vì các cổ đông sẽ nhận được một khoản lãi nhất định từ các khoản đầu tư của họ vào một công ty, tỷ lệ hoàn vốn yêu cầu của chủ sở hữu vốn là chi phí theo quan điểm của công ty, bởi vì nếu công ty không thực hiện được khoản lãi dự kiến này, các cổ đông sẽ bán hết cổ phần , dẫn đến giảm giá cổ phiếu và giá trị của công ty. Chi phí vốn chủ sở hữu, về cơ bản là số tiền mà một công ty phải bỏ ra để duy trì giá cổ phiếu sẽ làm hài lòng các nhà đầu tư.

Tính toán chi phí nợ (Rd), mặt khác, là một quá trình tương đối đơn giản. Để xác định chi phí nợ, bạn sử dụng tỷ giá thị trường mà một công ty hiện đang trả cho khoản nợ của mình. Nếu công ty đang trả một tỷ lệ khác với tỷ giá thị trường, bạn có thể ước tính tỷ lệ thị trường phù hợp và thay thế nó trong tính toán của bạn.

Có các khoản khấu trừ thuế có sẵn trên tiền lãi phải trả, thường là cho các công ty lợi ích. Bởi vì điều này, chi phí ròng của khoản nợ của công ty là số tiền lãi mà họ phải trả, trừ đi số tiền đã tiết kiệm được do thuế do các khoản thanh toán lãi được khấu trừ thuế. Đây là lý do tại sao chi phí nợ sau thuế là Rd*(1 – thuế suất thuế doanh nghiệp).

Bản chất của WACC

Theo nghĩa rộng, một công ty tài trợ tài sản của mình thông qua nợ hoặc bằng vốn chủ sở hữu. WACC là trung bình chi phí của các loại tài chính này, mỗi loại được tính theo tỷ lệ sử dụng tương ứng trong một tình huống nhất định. Bằng cách lấy trung bình có trọng số theo cách này, chúng ta có thể xác định số tiền lãi mà một công ty nợ cho mỗi đô la mà nó tài trợ.

Nợ và vốn chủ sở hữu là hai thành phần cấu thành nên nguồn vốn của công ty. Người cho vay và chủ sở hữu vốn sẽ mong đợi nhận được lợi nhuận nhất định trên số tiền hoặc vốn mà họ đã cung cấp. Vì chi phí vốn là lợi nhuận mà chủ sở hữu vốn (hoặc cổ đông) và chủ nợ sẽ mong đợi, WACC chỉ ra lợi nhuận mà cả hai loại bên liên quan (chủ sở hữu vốn và người cho vay) có thể mong đợi nhận được. Nói cách khác, WACC là chi phí cơ hội của một một nhà đầu tư khi chấp nhận rủi ro khi đầu tư tiền vào một công ty.

WACC của một công ty là lợi nhuận tổng thể cần thiết cho một công ty. Do đó, các giám đốc công ty thường sẽ sử dụng WACC trong nội bộ để đưa ra quyết định, như xác định tính khả thi về kinh tế của việc sáp nhập và các cơ hội mở rộng khác. WACC là tỷ lệ chiết khấu nên được sử dụng cho các dòng tiền có rủi ro tương tự như của công ty nói chung.

Để giúp hiểu WACC, hãy thử nghĩ về một công ty như một nhóm tiền. Tiền vào bể từ hai nguồn riêng biệt: nợ và vốn chủ sở hữu. Tiền thu được từ hoạt động kinh doanh không được coi là nguồn thứ ba bởi vì, sau khi một công ty trả hết nợ, công ty giữ lại bất kỳ khoản tiền còn lại nào không được trả lại cho các cổ đông (dưới dạng cổ tức) thay cho các cổ đông đó.

Giả sử rằng người cho vay yêu cầu hoàn lại 10% số tiền họ đã cho một công ty vay và giả sử rằng các cổ đông yêu cầu tối thiểu 20% tiền lãi cho các khoản đầu tư của họ để giữ cổ phần của họ trong công ty. Trung bình, sau đó, các dự án được tài trợ từ nhóm tiền của công ty sẽ phải hoàn trả 15% để đáp ứng các khoản nợ và vốn chủ sở hữu. 15% là WACC. Nếu số tiền duy nhất trong nhóm là 50 đô la đóng góp của chủ nợ và 50 đô la đầu tư của cổ đông và công ty đã đầu tư 100 đô la vào một dự án, để đáp ứng kỳ vọng hoàn trả của người cho vay và cổ đông, dự án sẽ cần tạo ra lợi nhuận là 5 đô la mỗi năm cho các công ty cho vay của công ty và 10 đô la một năm cho các cổ đông của công ty. Điều này sẽ đòi hỏi tổng lợi nhuận 15 đô la một năm, hoặc 15% WACC.

Sử dụng WACC

Các nhà phân tích chứng khoán thường sử dụng WACC khi đánh giá giá trị của các khoản đầu tư và khi xác định nên mua cổ phiếu nào. Ví dụ: trong phân tích dòng tiền chiết khấu, người ta có thể áp dụng WACC làm tỷ lệ chiết khấu cho các luồng tiền trong tương lai để lấy giá trị hiện tại ròng của doanh nghiệp. WACC cũng có thể được sử dụng như một tỷ lệ vượt rào mà các công ty và nhà đầu tư có thể đánh giá hiệu suất ROIC. WACC cũng rất cần thiết để thực hiện các tính toán giá trị gia tăng kinh tế (EVA).

Các nhà đầu tư thường có thể sử dụng WACC như một chỉ báo về việc liệu một khoản đầu tư có đáng để theo đuổi hay không. Nói một cách đơn giản, WACC là tỷ lệ lợi nhuận tối thiểu chấp nhận được mà tại đó một công ty mang lại lợi nhuận cho các nhà đầu tư. Để xác định nhà đầu tư, lợi nhuận cá nhân của nhà đầu tư vào một khoản đầu tư vào công ty, chỉ cần trừ WACC khỏi tỷ lệ phần trăm lợi nhuận của công ty.

Ví dụ: giả sử rằng một công ty mang lại lợi nhuận 20% và có WACC là 11%. Điều này có nghĩa là công ty đang mang lại lợi nhuận 9% cho mỗi đô la mà công ty đầu tư. Nói cách khác, với mỗi đô la chi tiêu, công ty đang tạo ra chín xu giá trị. Mặt khác, nếu lợi nhuận của công ty thấp hơn WACC, công ty sẽ mất giá trị. Nếu một công ty có lợi nhuận 11% và WACC là 17%, công ty sẽ mất sáu xu cho mỗi đô la chi tiêu, cho thấy các nhà đầu tư tiềm năng sẽ tốt nhất là bỏ tiền của họ vào nơi khác.

WACC có thể phục vụ như một kiểm tra thực tế hữu ích cho các nhà đầu tư; tuy nhiên, nhà đầu tư trung bình hiếm khi gặp rắc rối khi tính toán WACC vì đây là một phép đo phức tạp đòi hỏi nhiều thông tin chi tiết về công ty. Tuy nhiên, việc có thể tính toán WACC có thể giúp các nhà đầu tư hiểu WACC và tầm quan trọng của nó khi họ nhìn thấy nó trong các báo cáo của các công ty chứng khoán.

Hạn chế của WACC

Công thức WACC nhìn thì vẻ dễ tính toán nhưng thực tế thì không phải vậy. Vì các yếu tố nhất định của công thức, ví dụ như như chi phí vốn cổ phần, không phải là giá trị nhất quán, những người khác nhau có thể báo cáo những con số này theo các cách khác nhau vì những lý do khác nhau. Do đó, trong khi WACC thường có thể giúp mỗi người có cái nhìn sâu sắc có giá trị vào công ty, người ta phải luôn sử dụng nó cùng với các số liệu khác khi xác định có nên đầu tư vào công ty hay không.

Nguồn: Investopedia

 

BÌNH LUẬN()

Bài viết mới đăng

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

TƯ VẤN CHỨNG KHOÁN

Tầng 21 Tòa nhà VCCI 09 Đào Duy Anh, Đống Đa, Hà Nội.

0916 766 323

dautuphatdat@gmail.com | 0916 766 323

Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Nguyễn Đức Hùng

Bản quyền thuộc về Đầu Tư Phát Đạt

0916 766 323