SELECT MENU

Thuế thu nhập doanh nghiệp, tổng nợ dưới góc nhìn của Warrent

Lượt xem: 161 - Ngày:

Ở bài này chúng ta sẽ tìm hiểu hai khoản mục quan trọng là thuế và tổng nợ của doanh nghiệp qua bảng cân đối kế toán. Trong đó tổng nợ là một con số quan trọng có thể được sử dụng để xác định hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu. Cụ thể các vấn đề cần chú ý trong các khoản mục này, Đầu Tư Phát Đạt xin gửi tới nhà đầu tư bài viết này.

Thuế thu nhập doanh nghiệp chưa nộp, quyền lợi cổ đông thiểu số và nợ khác

Thuế thu nhập doanh nghiệp chậm nộp là tiền thuế đã đến hạn nhưng chưa được thanh toán. Con số này không cho chúng ta biết gì nhiều về việc liệu công ty có lợi thế cạnh tranh bền vững hay không.

Mục Quyền lợi cổ đông thiểu số trên bảng cân đối kế toán còn thú vị hơn nhiều. Khi công ty mua cổ phần của một công ty khác, sổ sách ghi nhận phần tiền đã trả như là một tài sản dưới tiêu đề “đầu tư dài hạn”. Nhưng khi công ty đã mua được hơn 80% số cổ phần của công ty kia nó có thể chuyển toàn bộ bảng cân đối kế toán còn lại của công ty bị mua lại vào bảng cân đối kế toán của chính mình. Với báo cáo kết quả kinh doanh cũng tương tự. Chúng ta hãy xem ví dụ Thương vụ công ty Berkshire mua lại 90% cổ phần cảu Siêu thị đồ gỗ Nebraska. Vì đã mua lại hơn 80% cổ phần của NFM bên Berkshire có thể đưa 100% lợi nhuận của NFM vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Berkshire, và cộng thêm 100% tài sản và nợ của NFM vào bảng cân đối kế toán. Mục Quyền lợi cổ đông hiểu số thể hiện giá trị 10% cổ phần của NFM mà Berkshire không sở hữu. Mục này được thể hiện như một khoản nợ để cân bằng phương trình, vì Berkshire đã được ghi nhận 100% tài sản và nợ của NFM, mặc dù nó chỉ sở hữu 90% cổ phần. Vậy điều này có liên quan gì đến việc nhận diện một công ty có lợi thế cạnh tranh bền vững. Không nhiều, nhưng thật thú vị để biết những gì có ý nghĩa hoặc không trong cuộc tìm kiếm công ty có lợi thế cạnh tranh bền vững của chúng ta.

“Nợ khác” là một mục tổng hợp, là nơi doanh mà doanh nghiệp đặt các khoản nợ hỗn hợp vào trong đó. Nó bao gồm các khoản nợ như các phán quyết chống lại công ty, các lợi ích chưa thành hiện thực, tiền lãi trên số thuế phải nộp, các khoản tiền phạt chưa nộp và các công cụ phái sinh. Không mục nào trong số này có thể giúp chúng ta trong cuộc tìm kiếm lợi thế cạnh tranh bền vững.

“Nợ khác” là một mục tổng hợp, là nơi mà doanh nghiệp đặt các khoản nợ hỗn hợp vào trong đó. Nó bao gồm các khoản nợ như các phán quyết chống lại công ty, các lợi ích chưa thành hiện thực, tiền lãi trên số thuế phải nộp, các khoản tiền phạt chưa nộp và các công cụ phái sinh. Không mục nào trong số này có thể giúp chúng ta trong cuộc tìm kiếm lợi thế cạnh tranh bền vững.

Tổng nợ và hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu

Tổng nợ là tổng tất cả các khoản nợ của công ty. Đây là một con số quan trọng có thể được sử dụng để xác định hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu. Với một ít sửa đổi, hệ số này có thể được sử dụng để giúp chúng ta xác định liệu doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh bền vững hay không.

Trước đây, hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu đã từng được sử dụng để xác định hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu. Với một ít sửa đổi, hệ số này có thể được sử dụng để giúp chúng ta xác định liệu doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh bền vững hay không.

Trước đây, hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu đã từng được sử dụng để giúp chúng ta xác định một công ty đang sử dụng nợ hay nguồn vốn chủ sở hữu (bao gồm cả lợi nhuận chưa phân phối) để tài trợ cho hoạt động kinh doanh. Công ty có lợi thế cạnh tranh bền vững sẽ dùng khả năng tạo lợi nhuận để tài trợ cho hoạt động kinh doanh và do đó, theo lý thuyết, sẽ thể hiện một mức vốn chủ sở hữu cao hơn và mức tổng nợ thấp hơn. Công ty không có lợi thế cạnh tranh sẽ sử dụng nợ để tài trợ cho hoạt động, và sẽ cho thấy điều ngược lại, một mức vốn chủ sở hữu thấp hơn và tổng nợ cao hơn.

Chúng ta có phương trình: Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu = Tổng nợ / Vốn chủ sở hữu

Khi sử dụng hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu như một chỉ số nhận biết, chúng ta có thể gặp phải vấn đề là kinh tế của các công ty có lợi thế cạnh tranh bền vững quá tốt nên họ không cần duy trì vốn chủ sở hữu và lợi nhuận chưa phân phối lớn trên bảng cân đối kế toán để hoàn thành việc kinh doanh; trong một số trường hợp họ hoàn toàn không cần nợ. Do có khả năng tạo lợi nhuận lớn nên họ sẽ thường sử dụng vốn chủ sở hữu / lợi nhuận chưa phân phối để mua cổ phiếu quỹ, nhằm giảm vốn chủ sở hữu /l ợi nhuận chưa phân phối. Đến lượt việc này giúp tăng hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu, thường xuyên đến điểm mà hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu trông giống một donh nghiệp tầm thường, một doanh nghiệp không có lợi thế cạnh tranh bền vững.

Moody’s, một công ty yêu thích của Warren, là một ví dụ tuyệt vời của hiện tượng này. Moody’s có tình trạng kinh tế tốt và đang kinh doanh trong lĩnh vực quen thuộc nên không cần duy trì vốn chủ sở hữu. Công ty đã thật sự dùng toàn bộ vốn chủ sở hữu để mua lại cổ phần. Trên danh nghĩa công ty đang có vốn chủ sở hữu âm. Điều này có nghĩa là hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu của công ty có vẻ như giống GM – một công ty không có lợi thế cạnh tranh bền vững và có giá trị thuần âm – hơn là giống Coca-Cola, một công ty có lợi thế cạnh tranh bền vững.

Tuy nhiên, nếu chúng ta cộng thêm giá trị của tất cả cổ phiếu quỹ mà Moody đã mua được thông qua các đợt mua cổ phiếu quỹ vào vốn chủ sở hữu của Moody hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu của Moody giảm xuống còn 0.63, phù hợp với hệ số cổ phiếu quỹ đã điều chỉnh của Coke là 0.51. GM vẫn có giá trị thuần âm, ngay cả với việc bổ sung giá trị cổ phiếu quỹ. Thực chất là GM không hề có cổ phiếu quỹ vì công ty không có tiền mua lại cổ phiếu.

Thật dễ dàng nhận thấy sự đối lập giữa các công ty có lợi thế cạnh tranh bền vững và những công ty không có lợi thế cạnh tranh bền vững và những công ty không có lợi thế này khi chúng ta nhìn vào hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu đã đực điều chỉnh cổ phiếu quỹ. Công ty có lợi thế cạnh tranh bền vững Procter & Gamble có tỷ lệ điều chỉnh là 0.71; trong khi đó, tỷ lệ của Wrigley là 0.68 – nghĩa là cứ mỗi USD vốn chủ sở hữu Wrigley có 68 xu nợ. So sánh P&G và Wrigley với Goodyear Tire, công ty có hệ số điều chỉnh là 4.35, hay Ford với hệ số điều chỉnh 38. Điều này có nghĩa là với mỗi USD vốn chủ sở hữu, Ford có 38 USD nợ – tương đương với 7.2 tỷ USD vốn chủ sở hữu và 275 tỷ USD nợ.

Với các định chế tài chính như ngân hàng, trung bình các hệ số này có xu hướng cao hơn nhiều so với hệ số của các công ty sản xuất. Ngân hàng đi vay lượng tiền rất lớn để sau đó cho vay ra tất cả, kiếm lời trên phần chênh lệch giữa khoản phải trả và khoản cho vay được. Điều này dẫn đến một lượng nợ khổng lồ, được bù đắp bằng lượng tài sản khổng lồ tương ứng. Trung bình trong sổ sách của các ngân hàng lớn nhất của Mỹ cứ mỗi USD vốn chủ sở hữu lại có 10 USD nợ. Đây là những gì Warren muốn nói khi ông chỉ ra rằng các ngân hàng là những tổ chức có hoạt động dựa trên số nợ vay cao. Tuy nhiên cũng có những trường hợp ngoại lệ và một trong số đó là Ngân hàng M&T, là ngân hàng yêu thích của Warren trong một thời gian dài. M&T có tỷ lệ này là 7.7, phản ánh chính sách thực tiễn cho vay khá thận trọng của ban quản lý.

Quy luật đơn giản ở đây là trừ khi chúng ta đang xem xét một định chế tài chính, còn bất kỳ khi nào thấy tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu đã được điều chỉnh mà thấp hơn 0,8 (càng thấp càng tốt), đó là một cơ hội tốt cho thấy công ty đang được xem xét có một lợi thế cạnh tranh bền vững đáng thèm muốn mà chúng ta đang tìm kiếm.

Và tìm được những gì mà ta đang tìm kiếm luôn luôn là một điều tốt, đặc biệt nếu chúng ta đang tìm kiếm sự giàu có.

Nguồn: Báo cáo tài chính dưới góc nhìn của Warren Buffett

BÌNH LUẬN()

Bài viết mới đăng

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

TƯ VẤN CHỨNG KHOÁN

Tầng 21 Tòa nhà VCCI 09 Đào Duy Anh, Đống Đa, Hà Nội.

0916 766 323

dautuphatdat@gmail.com | 0916 766 323

Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Nguyễn Đức Hùng

Bản quyền thuộc về Đầu Tư Phát Đạt

0916 766 323