SELECT MENU

Thuế, lợi nhuận thuần và EPS dưới góc nhìn của Buffett

Lượt xem: 226 - Ngày:

Bài hôm nay sẽ là về ba khoản mục cuối cùng trong bảng báo cáo kết quả kinh doanh. Ba khoản mục này rất quan trọng nhất là khi chúng ta muốn lựa chọn một doanh nghiệp tuyệt vời để đầu tư, đó là thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp, lợi nhuận thuần và thu nhập trên mỗi cổ phiếu. Cụ thể góc nhìn về ba khoản mục cuối của báo cáo kết quả kinh doanh, Đầu Tư Phát Đạt xin gửi tới các NĐT bài viết này.

Thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp: Làm thế nào warren biết được công ty nào báo cáo trung thực.

Cũng giống như mọi cá nhân phải đóng thuế khác, các công ty Mỹ cũng phải đóng thuế trên thu nhập của họ. Ngay nay (trong thời gian cuốn sách được viết), ở Mỹ, số tiền đó chiếm khoản 35% thu nhập. Số tiền thuế đã trả được ghi nhận trên báo cáo kết quả kinh doanh trong mục Thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp.

Giờ đây điều thú vị về Thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp là nó phản ánh đúng lợi nhuận trước thuế. Đôi khi, các công ty muốn cho mọi người thây họ đang tạo ra nhiều tiền hơn thật sự. Một trong những cách xem họ có báo cáo chính xác không là xem xét các chứng từ lưu ở SEC và xem họ đã trả bao nhiêu thuế thu nhập doanh nghiệp. Bạn hãy lấy con số được báo cáo là lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh trước thuế và nhân với 35%. Nếu kết quả thu được không bằng với số tiền mà công ty báo cáo là thuế thu nhập đã nộp, tốt hơn là chúng ta nên bắt đầu đặt cau hỏi.

Sau nhiều năm Warren đã học được rằng các công ty hay lừa dối IRS thì cũng thường chịu khó lừa dối các cổ đông. Cái hay của một công ty có lợi thế cạnh tranh dài hạn là nó tạo ra rất nhiều tiền nên không cần phải đánh lừa bất cứ ai để có vẻ tốt đẹp.

Lợi nhuận thuần: Những gì Warren đang tìm kiếm

Sau khi lấy doanh thu của công ty trừ đi tất cả chi phí và thuế, chúng ta sẽ có lợi nhuận thuần. Đây là nơi chúng ta nhìn thấy công ty làm ra được bao nhiêu tiền sau khi trả thuế thu nhập cá nhân. Khi nhìn vào con số này, Warren đã chú ý một số điểm để quyết định công ty có lợi thế cạnh tranh bền vững hay không. Do đó, chúng ta sẽ xem qua các chú ý đó chứ chưa bắt đầu ngày.

Chú ý đầu tiên của Warren là liệu lợi nhuận thuần có thể hiện một xu hướng tăng trưởng từ trước đến giờ không. Với ông, con số lợi nhuận thuần trong một năm đơn lẻ rất vô nghĩa; ông chỉ quan tâm liệu có sự nhất quán trong bức tranh lợi nhuận hau không và liệu xu hướng dài hạn có tăng trưởng không – cả hai có thể dược xem là tương đương với “sự bền vững” của lợi thế cạnh tranh. Warren cho rằng xu hướng không cần phải đều đặn, cái ông tìm kiếm là xu hướng tăng trưởng từ quá khứ.

Nhưng hãy lưu ý: Do có các chương trình mua cổ phiếu quỹ nên xu hướng lợi nhuận thuần trong quá khứ của mỗi công ty có thể khác với xu hướng thu nhập trên mỗi cổ phiếu. Các chương trình mua cổ phiếu quỹ sẽ giúp tăng thu nhập trên mỗi cổ phiếu bằng cách giảm số lượng cổ phiếu đang lưu hành. Một công ty giảm số cổ phiếu lưu hành, nghĩa là số cổ phiếu được sử dụng để chia lợi nhuận thuần của công ty cũng giảm, lần lượt làm tăng thu nhập trên mỗi cổ phiếu mặc dù lợi nhuận thuần thực tế không tăng. Trong các ví dụ cực đoan, thậm chí chương trình mua cổ phiếu quỹ của công ty có thể làm thu nhập trên mỗi cổ phiếu tăng lên trong khi lợi nhuận thuần của công ty lại giảm.

Mặc dù hầu hết các phân tích tài chính đều tập trung vào con số thu nhập trên mỗi cổ phiếu, Warren lại nhìn vào lợi nhuận thuần của doanh nghiệp để xem điều gì thật sự xảy ra.

Warren đã học được rằng các công ty có lợi thế cạnh tranh bền vững sẽ có tỷ lệ lợi nhuận thuần so với tổng doanh thu cao hơn các đối thủ cạnh tranh. Warren đã nói rằng nếu được lựa chọn việc sở hữu giữa một công ty có lợi nhuận 2 tỷ USD trên 10 tỷ tổng doanh thu, hoặc một công ty tạo ra 5 tỷ USD lợi nhuận trên 100 tỷ USD doanh thu, ông sẽ chọn công ty tạo ra dược 2 tỷ USD. Đó là vì công ty có lợi nhuận thuần 2 tỷ USD đang có lợi nhuận chiếm 20% tổng doanh thu, trong khi với công ty thu được 5 tỷ USD thì tỷ lệ này chỉ có 5%.

Như vậy, trong khi con số tổng doanh thu cho chúng ta biết rất ít về đặc điểm kinh tế của doanh nghiệp, thì tỷ lệ của nó so với lợi nhuận thuần có thể cung cấp nhiều thông tin để so sánh với các doanh nghiệp khác.

Một doanh nghiệp tuyệt vời như Coca-Cola có lợi nhuận thuần chiếm 21% tổng doanh thu, và Moody’s có tỷ lệ đáng ngạc nhiên 31%, những con số đã phản ánh ưu thế kinh tế cơ bản của các doanh nghiệp này. Một công ty như Southwest Airlines có lợi nhuận xoàng xĩnh 7% cũng đã phản ánh tính cạnh tranh cao của ngành hàng không, trong đó không một hãng hàng không nào có lợi thế cạnh tranh dài hạn so với các đối thủ khác. Ngược lại, General Motors, thậm chí trong một năm kinh doanh tốt, không bị thua lỗ, cũng chỉ có lợi nhuận 3% trên tổng doanh thu. Đây là dấu hiệu của nền kinh tế tệ hại vốn có của ngành công nghiệp sản xuất ô tô mang tính cạnh tranh quá cao.

Một nguyên tắc đơn giản (và có ngoại lệ) là nếu một công ty đang cho thấy lịch sử lợi nhuận thuần trong quá khứ chiếm hơn 20% tổng doanh thu thì có nhiều khả năng là công ty đang được hưởng lợi từ một số lợi thế cạnh tranh dài hạn. Tương tự, nếu lợi nhuận thuần của một công ty luôn dưới 10% tổng doanh thu – hoặc có xu hướng như vậy – thì có nghĩa là nó đang kinh doanh trong một ngành có tính cạnh tranh cao, khi không một công ty nào có lợi thế cạnh tranh bền vững. Tất nhiên nguyên tắc này chưa bao quát được các công ty có lợi nhuận chiếm từ 10% đến 20% tổng doanh thu, vốn là các công ty có mỏ vàng trong kinh doanh sẵn sàng chờ khai thác mà chưa ai phát hiện ra.

Một trong những ngoại lệ của nguyên tắc này là các ngân hàng và công ty tài chính. Với các định chế này, nếu có tỷ lệ lợi nhuận thuần so với tổng doanh thu cao bất thường thì thường có nghĩa là bộ phận quản lý rủi ro đã chểnh mảng. Trong khi nhìn có vẻ hấp dẫn, các con số thực sự đã cho thấ ngân hàng chấp nhận rủi ro cao hơn để kiếm được nhiều tiền hơn, mà trong trò chơi cho vay thì đây là một phương pháp kiếm tiền nhanh chóng nhưng cái giá phải trả trong dài hạn là quá lớn. Và vướng vào các thảm họa tài chính không phải là một cách làm giàu.

Thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS): Cách Warren phân biệt người chiến thắng với kẻ thu cuộc.

Thu nhập trên mỗi cổ phiếu là lợi nhuận thuần của công ty tính trên cơ sở từng cổ phiếu cho một khoản thời gian nhất định. Đây là một con số có ý nghĩa lớn trong thế giới đầu tư vì trên nguyên tắc, thu nhập trên mỗi cổ phiếu càng cao bao nhiêu thì giá chứng khoán của công ty càng cao bấy nhiêu. Để xác định con số này, chúng ta lấy lợi nhuận thuần của công ty chia cho số cổ phần đang lưu hành. Ví dụ: Nếu một công ty có lợi nhuận thuần là 10 triệu USD một năm, và đang lưu hành 1 triệu cổ phần, vậy thì thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) của công ty này là 10 USD.

Trong khi không một con số thu nhập trên mỗi cổ phiếu ở một năm riêng lẻ có thể dược sử dụng để nhận diện công ty có lợi thế cạnh tranh bền vững, thì dãy số thu nhập trên mỗi cổ phiếu trong mười năm có thể cho chúng ta biết một bức tranh rõ ràng liệu công ty đang có lợi thế cạnh tranh dài hạn và đang kinh doanh trong lĩnh vực quan thuộc hay không. Những gì Warren tìm kiếm là sự nhất quán và xu hướng tăng trưởng trong bức tranh thu nhập trên mỗi cổ phiếu qua mười năm.

Bạn có thể được đọc một báo cáo như sau (đơn vị USD)

Năm 2008: 2.95

Năm 2007: 2.68

Năm 2006: 2.37

Năm 2005: 2.17

Năm 2004: 2.06

Năm 2003: 1.95

Năm 2002: 1.65

Năm 2001: 1.60

Năm 2000: 1.48

Năm 1999: 1.30

Năm 1998: 1.42

Báo cáo này cho Warren thấy rằng công ty có lợi nhuận ổn định với xu hướng tăng – một dấu hiệu tuyệt vời cho thấy công ty được xem xét có sở hữu một dạng lợi thế cạnh tranh dài hạn nào đó và đang kinh doanh trong lĩnh vực quan thuộc. Lợi nhuận ổn định thường là một dấu hiệu cho thấ công ty đang bán một sản phẩm hay một hỗn hợp sản phẩm không cần phải chi nhiều tiền để thay đổi hay cải tiến. Lợi nhuận có xu hướng tăng trưởng đồng nghĩa với việc lợi thế kinh tế của công ty đủ mạnh để cho phép nó dành chi phí tăng thị phần thông qua quảng cáo hoặc mở rộng sản xuất, hay sử dụng các ứng dụng kỹ thuật tài chính như mua cổ phiếu quỹ.

Các công ty mà Warren tránh xa thường có một bức tranh lợi nhuận thất thường như sau:

Thu nhập trên mỗi cổ phiếu qua các năm (đơn vị USD)

Năm 2008: 2.50

Năm 2007: -0.45

Năm 2006: 3.89

Năm 2005: -6.05

Năm 2004: 6.39

Năm 2003: 5.03

Năm 2002: 3.53

Năm 2001: 1.77

Năm 2000: 6.68

Năm 1999: 8.53

Năm 1998: 5.24

Báo cáo trên cho thấy xu hướng giảm, bị ngắt quãng bởi các khoản lỗ, giúp Warren biết rằng công ty này đang thuộc một ngành cạnh tranh khốc liệt có thể xảy ra bùng bổ và phá sản. Sự bùng nổ xảy ra khi cầu cao hơn cung, nhưng khi cầu quá lớn, công ty phải gia tăng sản lượng để đáp ứng nhu cầu, làm tăng chi phí và cuối cùng dẫn đến cung trong cả ngành bị thừa. Cung bị dư thừa làm cho giá giảm, đồng nghĩa với việc các công ty bị lỗ cho đến khi xuất hiện đợt bùng nổ tiếp theo. Có hàng ngàn công ty như thế, và các đợt biến động giá cổ phiếu rất mạnh gây ra bởi lợi nhuận thất thường của mỗi công ty, khiến cho những nhà đầu tư theo giá trị truyền thống ảo tưởng rằng đây chính là cơ hội để mua vào. Thực chất những gì họ đang mua là một chuyến tàu mất nhiều thời gian, chậm chạp mà không dẫn đến đâu cả.

Kết thúc bài này thì chúng ta cũng đã đi hết về các khoản mục trong báo cáo kết quả kinh doanh theo góc nhìn của Warren Buffet. Ở các bài tiếp theo chúng ta sẽ cùng nhau đi tìm hiểu về bảng cân đối kế toán – nơi thể hiện các mục nợ, tài sản của doanh nghiệp.

Nguồn: Báo cáo tài chính dưới góc nhìn của Warren Buffett

BÌNH LUẬN()

Bài viết mới đăng

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

TƯ VẤN CHỨNG KHOÁN

Tầng 21 Tòa nhà VCCI 09 Đào Duy Anh, Đống Đa, Hà Nội.

0916 766 323

dautuphatdat@gmail.com | 0916 766 323

Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Nguyễn Đức Hùng

Bản quyền thuộc về Đầu Tư Phát Đạt

0916 766 323