SELECT MENU

Những hành vi bất hợp lý của nhà đầu tư cá nhân, phần 4: Căm ghét thất bại

Lượt xem: 72 - Ngày:

Căm ghét thất bại

Đóng góp quan trọng nhất của Kahneman và Tversky là thuyết triển vọng, mô tả hành vi của mỗi cá nhân khi đối diện với tình huống mạo hiểm giữa viễn cảnh được và mất.

Ảnh minh họa: Nguồn opportunitydesk

Nhìn chung, các nhà kinh tế học tài chính như Harry Markowitz đã xây dựng các mô hình mà trong đó mỗi cá nhân ra quyết định dựa trên tác động có thể xảy ra của mỗi lựa chọn đối với khoản tiền cuối cùng. Thách thức giả định này, thuyết triển vọng cho rằng lựa chọn của mọi người được thúc đẩy bởi giá trị được hay mất. Những khoản thiệt hại không mong muốn nhiều hơn là lợi nhuận kỳ vọng. Hơn nữa, ngôn ngữ được dùng để thể hiện các khoản được và mất có thể xảy ra cũng sẽ ảnh hưởng đến quyết định cuối cùng. Theo thuật ngữ t}m lý, nó được coi là “lựa chọn được hình thành như thế nào”.

Chẳng hạn như khi tung một đồng xu, nếu mặt ngửa xuất hiện – bạn sẽ được 100 đô-la, còn nếu mặt sấp xuất hiện, ngược lại, bạn phải trả 100 đô-la. Bạn có chấp nhận đ|nh cuộc không? Hầu hết mọi người sẽ nói không, thậm chí ngay cả khi trò chơi công bằng và khi chơi thử bạn đều thắng. Một nửa khả năng bạn có 100 đô-la và một nửa là mất. Về mặt toán học, trò chơi có giá trị kỳ vọng bằng không, được tính như sau:

Khả năng xuất hiện mặt ngửa x số tiền được trả + khả năng xuất hiện mặt sấp x số tiền phải trả = giá trị kỳ vọng. Giá trị kỳ vọng = ½ (100 đô-la) +1/2 (-100 đô-la)=0

Sau đó, Kahneman và Tversky đã áp dụng thí nghiệm này với rất nhiều đối tượng khác nhau, thay đổi lượng tiền thưởng để kiểm tra xem điều gì thúc đẩy mọi người chấp nhận đ|nh cược.

Họ thấy rằng khoản tiền thưởng phải khoảng tầm 250 đô-la. Chú ý giá trị kỳ vọng của lợi nhuận thu được từ trò đ|nh cược này phải vào khoảng 75 đô-la mới được chấp nhận.

Giá trị kỳ vọng = ½ (250 đô-la) + ½ (-100 đô-la) = 75 đô-la.

Kahneman và Tversky kết luận rằng mọi người khó chấp nhận thất bại hơn thành công đến 2,5 lần. Nói cách khác, một đô-la mất đi sẽ g}y đau đớn gấp 2,5 lần so với 1 đô-la thu được. Mọi người thể hiện sự căm ghét thất bại, thậm chí việc thay đổi 100 đô-la hầu như không khiến những người có tài sản lớn chú ý. Chúng ta sẽ xem xét sự căm ghét thất bại dẫn các nhà đầu tư đến những sai lầm gây tốn kém ở phần sau.

Tuy nhiên, thú vị là ở chỗ, khi một người đối diện với tình huống gần như chắc chắn bị thiệt hại, các nhà tâm lý nhận thấy anh ta rất thích đánh cược. Hãy xem hai trường hợp sau:

Chắc chắn mất 750 đô-la 75% mất 1000 đô-la và 25% không mất gì. Chú ý rằng giá trị kỳ vọng của hai trường hợp trên là như nhau – nghĩa là đều mất 750 đô-la.

Nhưng hầu như 90% số người được hỏi sẽ chọn trường hợp 2. Khi đối diện với khả năng thiệt hại chắc chắn, người ta thường hành động theo hướng tìm kiếm mạo hiểm.

Kahneman và Tversky cũng khám phá ra một hiệu ứng “trình bày” quan trọng có liên quan. Đối với người đưa ra quyết định, hướng lựa chọn được xây dựng trước trong bảng hỏi có thể dẫn tới những kết quả khác nhau. Chúng nêu ra các vấn đề sau:

Giả sử nước Mỹ chuẩn bị cho sự bùng nổ của một bệnh dịch bất thường bắt nguồn từ Châu Á, có khả năng làm 600 người thiệt mạng. Hai chương trình chống lại căn bệnh được đưa ra. Giả sử dự đoán khoa học chính xác về kết quả của chương trình như sau:

Nếu chọn phương án A, sẽ cứu được 200 người.

Nếu chọn phương án B, 1/3 khả năng sẽ cứu được 600 người, và 2/3 khả năng là không cứu được người nào.

Trước tiên, cần chú ý rằng trong cả hai chương trình trên giá trị kỳ vọng số bệnh nhân được cứu đều là 200 người. Nhưng theo thuyết triển vọng, những người ghét mạo hiểm khi cân nhắc kết quả của hai chương trình, và, như dự đoán, khoảng 2/3 số người tham gia câu hỏi này thích chọn phương án A hơn.

Nhưng giả sử chúng ta đưa ra vấn đề theo một cách khác khác.

Nếu chọn chương trình A*, 400 người sẽ chết.

Nếu chọn phương án B*, 1/3 khả năng không ai chết và 2/3 khả năng rằng 600 người sẽ chết.

Chú ý rằng lựa chọn A và A*; B và B* đều như nhau. Nhưng do cách trình bày vấn đề thứ hai được định hình theo hướng rủi ro có nạn nhân bị thiệt mạng khiến hơn 75% số người trả lời chọn phương án B*. Kết quả này đã chứng tỏ vai trò của hiệu ứng “trình bày” và việc ưu tiên mạo hiểm trong việc cân nhắc thiệt hại. Khi bác sỹ phải đối mặt với các quyết định liên quan đến phương án điều trị bệnh nhân ung thư, các lựa chọn kh|c nhau được đưa ra và vấn đề được trình bày theo xác xuất sống sót thay vì xác suất thiệt mạng. Barber và Odean nghiên cứu các dữ liệu thương mại về 10.000 khách hàng của một hãng môi giới chiết khấu lớn và rút ra “ảnh hưởng theo xu hướng”. Các nhà đầu tư có khuynh hướng bán các cổ phiếu đang tăng giá vẫn giữ lại các khoản đầu tư thất bại. Việc bán các cổ phiếu đang tăng gi| giúp nhà đầu tư nhìn thấy lợi nhuận và tự tin hơn. Nếu bán các cổ phiếu đang mất giá, họ sẽ cảm thấy buồn và hối tiếc vì thất bại. Miễn cưỡng chấp nhận rủi ro rõ ràng không phải là phương án tối ưu theo như thuyết đầu tư hợp lý và khá ngốc nghếch nếu xét theo nghĩa thông thường. Bán những cổ phiếu đang thu lợi (ngoài các khoản ưu đãi thuế) có liên quan đến việc đóng thuế lãi vốn. Còn bán các cổ phiếu bị lỗ liên quan tới việc giảm thuế đối với các khoản thu khác đã được ghi nhận hoặc được khấu trừ thuế tới một mức độ nhất định. Cho dù nhà đầu tư tin rằng cổ phiếu đang mất giá có thể hồi phục trong tương lai, anh ta vẫn sẽ bán chúng và mua những cổ phiếu khác cùng ngành có triển vọng và đặc điểm rủi ro tương đương. Miễn cưỡng chấp nhận rủi ro cũng xuất hiện rõ rệt trong thị trường nhà ở. Khi giá nhà tăng, hối lượng doanh thu tăng và các ngôi nhà thường được bán rất nhanh với mức giá bằng hoặc cao hơn giá chào bán. Cảm giác căm ghét thất bại giải thích tại sao người bán lại miễn cưỡng chịu lỗ khi bán các tài sản.

Thuyết triển vọng cũng đưa ra lý do tại sao rất nhiều người từ chối tham gia kế hoạch tiết kiệm 401 tại nơi họ làm việc, ngay cả khi công ty của họ xứng đáng với phần đóng góp đó. Nếu hỏi một nhân viên thường sử dụng một mức cụ thể từ lương thực lĩnh để đóng góp vào kế hoạch nghỉ hưu nhưng bày giờ phải tăng thêm 1 đô-la cho khoản đó, anh ta sẽ kết luận rằng đây là sự thất thoát trong chi tiêu. Các cá nhân đánh giá thất thoát nặng nề hơn lợi nhuận. Các nhà tâm lý chỉ ra rằng hoàn toàn có thể hiểu rõ tại sao người ta lại tiết kiệm ít hơn, đó là vì cảm giác căm ghét thất bại đi kèm với khó khăn trong việc thể hiện tự chủ, đồng thời dễ dàng trong việc trì hoãn và không chịu thay đổi (giữ nguyên hiện trạng).

Có hai gợi ý giúp vượt qua sự miễn cưỡng tiết kiệm của mọi người. Thứ nhất, để vượt qua sức ỳ và tính không chịu thay đổi phải thay đổi cách trình bày các lựa chọn. Chúng ta biết nếu yêu cầu các nhân viên chủ động đăng ký kế hoạch tiết kiệm 401, rất nhiều người sẽ từ chối. Nhưng nếu đưa ra vấn đề theo cách khác, chẳng hạn như, mọi người phải chủ động không tham gia vào kế hoạch tiết kiệm, tỷ lệ đăng ký sẽ nhiều hơn. Các công ty xây dựng kế hoạch tiết kiệm 401 với chức năng tự đăng ký (phải thực hiện các quyết định sáng suốt để điền vào đơn tuyên bố không tham gia) có tỷ lệ đăng ký cao hơn so với các kế hoạch mà nhân viên phải chủ động đăng ký.

Một phép thử sáng suốt khác do các nhà kinh tế Richard Thaler và Shlomo Benartzi thực hiện. Một số nhân viên sẽ từ chối tiết kiệm kể cả khi được đăng ký tự động bởi vì họ chỉ có đồng lương đủ sống. Mục tiêu của kế hoạch “Ngày mai sẽ tiết kiệm thêm” của Thaler – Benartzi là buộc các nhân viên cam kết trước sẽ bỏ bất cứ khoản lương tăng thêm nào vào tài khoản tiết kiệm dành cho việc nghỉ hưu. Nếu nhân viên tham gia kế hoạch, bắt đầu với chi phiếu trả lương sau khi tăng, anh ta đã tăng thêm một phần vào khoản tiết kiệm dành cho việc nghỉ hưu. Điều này giúp giảm nhẹ nỗi căm ghét thất bại khi phải giảm bớt khoản tiền mang về. Tỷ lệ đóng góp tiếp tục tăng mỗi lần theo kế hoạch cho đến khi đạt mức giảm thuế tối đa. Trong phươngpháp này, sức ỳ và tâm lý ngại thay đổi sẽ ngăn cản mọi người tham gia kế hoạch. Nhân viên được phép rút khỏi kế hoạch bất cứ lúc nào.

Thaler và Benartzi lần đầu tiên áp dụng kế hoạch của họ tại một công ty sản xuất quy mô vừa vào năm 1998 khi mà công ty có tỷ lệ tham gia kế hoạch tiết kiệm thấp. Kế hoạch “Ngày mai sẽ tiết kiệm thêm” đã trở nên rất phổ biến. Hơn 3/4 nhân viên của công ty đồng ý tham gia. Thêm vào đó, hơn 80% các nhân viên này tiếp tục chương trình với các khoản chi cao hơn. Kể cả những người rút lui cũng không giảm tỷ lệ đóng góp ở mức bình thường; họ chỉ ngừng mức tăng trong tương lai. Do vậy, thậm chí những người này cũng tiết kiệm nhiều hơn đ|ng kể so với trước khi tham gia kế hoạch.

Như vậy chúng ta đã đi tìm hiểu hết 4 hành vi bất hợp lý của những nhà đầu tư cá nhân – đồng thời những hành vi đó cũng phần nào tác động đến giá của cổ phiếu. Mong rằng qua series bài viết này các anh chị có thể đều rút ra được những bài học quý giá cho chính bản thân.

Nguồn tham khảo: Bước đi ngẫu nhiên trên phố Wall

BÌNH LUẬN()

Bài viết mới đăng

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

TƯ VẤN CHỨNG KHOÁN

Tầng 21 Tòa nhà VCCI 09 Đào Duy Anh, Đống Đa, Hà Nội.

0916 766 323

dautuphatdat@gmail.com | 0916 766 323

Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Nguyễn Đức Hùng

Bản quyền thuộc về Đầu Tư Phát Đạt

0916 766 323