SELECT MENU

Khấu hao và chi phí lãi vay dưới góc nhìn của Buffett

Lượt xem: 226 - Ngày:

Trong bài hôm nay, để tiếp tục chuỗi các khoản chi phí trong báo cáo tài chính dưới góc nhin của Buffett chúng ta sẽ nghiên cứu về hai loại chi phí rất quan trọng nhưng thường bị không ít nhà đầu tư bỏ quên đó là khấu hao và chi phí lãi vay.

Khấu hao: Chi phí mà warren không thể bỏ qua

Chúng tôi giữa nguyên nội dung của cuốn sách, tuy nhiên theo chuẩn kế toán của Việt Nam khoản mục khấu hao được tính luôn trong các chi phí của hoạt động sản xuất kinh doanh. Nên nhà đầu tư cần đọc thêm thuyết minh báo cáo tài chính về phần chi phí tính là khấu hao trong chi phí sản xuất, và trong chi phí bán hàng, quản lý doanh nghiệp nữa. Nhưng nội dung, ý nghĩa của khấu hao được trình bày ở dưới đây vẫn không hề thay đổi khi nói đến doanh nghiệp ở nước ngoài hay ở Việt Nam.

Cuối cùng tất cả máy móc thiết bị và nhà xưởng cũng bị hao mòn theo thời gian; sự hao mòn này được ghi nhận trên báo cáo hoạt động kinh doanh là khấu hao. Về cơ bản, số tiền mà một vật giảm giá trong một năm nhất định là chi phí được khấu trừ vào thu nhập trong năm đó. Điều này cũng hợp lý: Người ta có thể cho rằng số tiền mà tài sản giảm giá được sử dụng để tạo ra lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của công ty trong năm đó.

Bạn hãy xem ví đụ này: Giả sử công ty In ấn XYZ mua lại một nhà máy tin trị giá một triệu USD. Tờ báo này có thể hoạt động trong mười năm. Vì vậy, Phòng Doanh thu Nội bộ (IRS – cơ quan thuộc bộ tài chính Mỹ, ccos trách nhiệm thu thuế theo luật thuế doanh thu nội bộ) sẽ không cho phép công ty tính toàn bộ chi phí một triệu USD trong năm dược mua. Thay vào đó, nhà in phải tính chi phí cho hơn 10 năm hoạt động. Khoảng thời gian mười năm và chi phí ban đầu 1 triệu USD có nghĩa là XYZ sẽ giảm giá nhà in 100.000 USD mỗi năm. Khấu hao là một chi phí kinh doanh thực tế, vì vào một thời điểm nào đó trong tương lai, nhà in sẽ phải được thay thế.

Trên bảng cân đối kế toán, việc mua nhà in sẽ làm giảm 1 triệu USD tiền mặt và tăng 1 triệu USD ở mục nhà xưởng và thiết bị. Trong mười năm tiếp theo, chi phí khấu hao 100.000 USD mỗi năm sẽ hiển thị trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh như một chi phí. Trên bảng cân đối kế toán, mỗi năm sẽ có 100.000 USD được trừ từ mục nhà xưởng và thiết bị cũng như 100.000 USD được ghi thêm vào mục trách nhiệm khấu hao lũy kế. Khoản tiền mặt một triệu USD thật sự chi ra để mua nhà in sẽ được thể hiện trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ trong mục chi phí vốn. Chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng chi phí một triệu USD không được tính vào năm mua nhà in, mà được phân bổ như chi phí khấu hao trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, mỗi năm 100.000 USD, trong khoảng thời gian mười năm.

Các nhà tài chính phố Wall đã chỉ ra một bí quyết là một khi đã mua và thanh toán tiền nhà in chi phí khấu hao hàng năm 100.000 USD không ảnh hưởng gì thêm đến dòng tiền mặt đi ra, nhưng nó làm giảm lợi nhuận hàng năm được báo cáo cho IRS trong mười năm tiếp theo. Điều này có nghĩa là theo quan điểm ngắn hạn, XYZ có một khoản chi phí hàng năm mà trong thực tế không tiêu tốn dòng tiền mặt. Vì vậy, các công ty tài chính phố Wall có thể thêm 100.000 USD chi phí ngược và lợi nhuận, điều đó có nghãi là giờ đây, dòng tiền mặt của doanh nghiệp có thể được dùng để vay được nhiều nợ hơn cho các dự án tạo ra tiền như hoạt động sử dụng nợ vay để mua lại công ty khác. Phố Wall có một từ viết tắt để chỉ khoản lợi nhuận tính lại này: Họ gọi đó là EBIDA – có nghãi là lợi nhuận trước khi tính thuế thu nhập, khấu hao và phân bổ.

Warren cho rằng cách sử dụng EBITDA, các người chơi khôn ngoan của phố Wall đang phớt lờ thực tế là cuối cùng nhà in sẽ bị hao mòn và công ty sẽ phải dùng một triệu USD để mua nhà in mới. Nhưng bây giờ công ty đang phải gánh một núi nợ để lại sau thương vụ dùng nợ vay mua lại công ty khác và có thể không có khả năng tài trợ một triệu USD mua nhà in mới.

Warren tin rằng khấu hao là một chi phí rất thực tế và phải luôn được kể đến trong mọi phép tính về lợi nhuận. Nếu không chúng ta sẽ tự dối mình trong ngắn hạn vì tin rằng doanh nghiệp đang thu được nhiều lợi nhuận hơn thực tế. Và không ai giàu có nhờ ảo tưởng.

Warren đã phát hiện rằng các công ty có lợi thế cạnh tranh bền vững thường có tỷ lệ chi phí khấu hao trên lãi gộp thấp hơn so với các công ty bị ảnh hưởng bởi các rắc rối của sự cạnh tranh gay gắt. Ví dụ như chi phí khấu hao của Coca-Cola duy trì khoảng 6% lợi nhuận gộp, và Wrigley, một công ty khác cũng có lợi thế cạnh tranh bền vững, cũng vào khoảng 7%. Procter&Gamble, một thời gian dài vốn là công ty yêu thích của Warren, chi phí này chiếm khoảng 8%. Trái lại là trường hợp của GM, vốn nằm trong một ngành đòi hỏi nhiều vốn và cso tính cạnh tranh cao, chi phí khấu hao chiếm từ 22% đến 57% của lợi nhuận gộp.

Cũng như mọi chi phí khác bị trừ vào lợi nhuận gộp của một công ty, Warren đã nhận thấy rằng chi phí ngày càng ít luôn có nghĩa là lợi nhuận càng nhiều – khi nó làm cho lợi nhuận cuối cùng gia tăng.

Chi phí lãi vay: Điều mà warren không muốn có

Chi phí lãi vay là phần tiền lãi đã chi trả, trong cả quý hoặc cả năm, cho số nợ xuất hiện trên bảng cân đối kế toán. Trong khi đối với các định chế như ngân hàng số tiền lãi thu được có thể nhiều hơn số tiền chi ra, đa phần các doanh nghiệp sản xuất và bán lẻ phải trả rất nhiều tiền lãi so với phần tiền kiếm được.

Đây được coi là chi phí tài chính, không phải là chi phí từ hoạt động kinh doanh. Nó đứng độc lập, vì không bị rằng buộc với bất kỳ quy trình sản xuất hay bán hàng nào. Thay vào đó, tiền lãi phản ánh tổng nợ mà công ty đang có trong sổ sách. Công ty càng có nhiều nợ bao nhiêu sẽ phải trả nhiều tiền lãi bấy nhiêu.

Các công ty có chi phí lãi vay cao liên quan đến thu nhập từ hoạt động kinh doanh thường là một trong hai dạng: là công ty hoạt động trong một ngành có tính cạnh tranh khắc nghiệt, đòi hỏi nhiều chi phí vốn để duy trì tính cạnh tranh, hoặc là một công ty có lợi thế kinh tế quá tốt phải vay nợ khi công ty khác mua lại trong một thương vụ sát nhập sử dụng nợ vay.

Warren đã chỉ ra rằng các công ty có lợi thế cạnh tranh bền vững thường ít có hoặc không có chi phí lãi vay. Công ty có lợi thế cạnh tranh dài hạn Procter & Gamble chỉ phải danh f8% thu nhập từ hoạt động kinh doanh để trả chi phí lãi vay; Công ty Wrigley Co trung bình phải trả 7%. Hãy so sánh hai công ty này với Goodyear, công ty sản xuất lốp xe thuộc ngành có tính cạnh tranh cao và đòi hỏi nhiều vốn. Trung bình Goodyear phải sử dụng 49% thu nhập từ hoạt động kinh doanh để thanh toán lãi vay.

Thậm chí đối với những ngành mang tính cạnh tranh cao như ngành hàng không, số tiền thu nhập từ hoạt động kinh doanh dùng để thanh toán lãi vay có thể được sử dụng để xác định các công ty có lợi thế cạnh tranh. Công ty có lợi nhuận ổn định Southwest Airlines chỉ dùng 9% thu nhập từ hoạt động kinh doanh để thanh toán lãi vay, trong khi đối thủ cạnh tranh đang trên bờ vực phá sản của nó, United Airlines, lại chi đến 61% thu nhập. Một đối thủ khác của Southwest đang gặp khó khăn, American Airlines, lại trả một tỷ lệ khác thường lên đến 92% thu nhập từ các hoạt động kinh doanh cho chi phí này.

Thông thường, tất cả các công ty có lợi thế cạnh tranh dài hạn mà Warren yêu thích trong ngành sản xuất hàng tiêu dùng đều có chi phí lãi vay thấp hơn 15% thu nhập từ hoạt động kinh doanh. Nhưng bạn cũng nên lưu ý rằng tỷ lệ này biến thiên rất lớn theo từng ngành. Chúng ta lấy ví dụ: Wells Fargo, ngân hàng mà Warren sở hữu 14% cổ phần, chi trả khoản 30% thu nhập từ hoạt động kinh doanh cho lãi vay, có vẻ cao so với Coke, nhưng thực sự đây là tỷ lệ thất nhất và hấp dẫn nhất trong số năm ngân hàng hàng đầu của Hoa Kỳ. Wells Fargo cũng là định chế duy nhất được Standart & Poor’s xếp hạng AAA.

Tỷ lệ chi phí lãi vay so với thu nhập từ hoạt động kinh doanh cũng có thể cho thấy mức độ nguy hiểm về kinh tế của công ty. Chúng ta lấy ví dụ về ngành ngân hàng đầu tư, trung bình có tỷ lệ lãi vây chiếm đến gần 70% thu nhập từ hoạt động kinh doanh. Nếu xem xét kỹ chúng ta sẽ phải chú ý thực tế rằng năm 2006, Bear Stearns báo cáo tỷ lệ này là 70% thu nhập, nhưng vào quý cuối cùng của năm 2007, tỷ lệ này tăng vọt lên 230%. Điều này có ý nghĩa là công ty đã phải dùng cả vốn chủ sở hữu cho sự khác biệt này. Trong một ngành kinh doanh có hoạt động vay nợ cao như Bear Stearns điều đó có nghĩa là tai họa. Tháng ba năm 2008, định chế một thời hùng mạnh Bear Stearns, vốn một năm trước đã có cổ phiếu được mua bán với giá 170 USD, đã bị buộc phải hợp nhất với JP Morgan Chase & Co và cổ phiếu chỉ còn giá là 10 USD.

Quy luật ở đây thật sự đơn giản: Dù ở bất kỳ ngành nào công ty có tỷ lệ lãi vay phải trả so với thu nhập từ hoạt động kinh doanh thấ nhất cũng thường là công ty có lợi thế cạnh tranh. Theo Warren, đầu tư vào công ty có lợi thế cạnh tranh bền vững là cách duy nhất để đảm bảo rằng chúng ta sẽ giàu có trong dài hạn.

Nguồn: Báo cáo tài chính dưới góc nhìn của Warren Buffett

BÌNH LUẬN()

Bài viết mới đăng

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

TƯ VẤN CHỨNG KHOÁN

Tầng 21 Tòa nhà VCCI 09 Đào Duy Anh, Đống Đa, Hà Nội.

0916 766 323

dautuphatdat@gmail.com | 0916 766 323

Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Nguyễn Đức Hùng

Bản quyền thuộc về Đầu Tư Phát Đạt

0916 766 323