SELECT MENU

Cách xác định xu hướng thị trường chứng khoán

Lượt xem: 942 - Ngày:

Các nhà đầu tư, giao dịch thường coi xu hướng này là một phần trong những công cụ phân tích thị trường của họ. Với rất nhiều người nhìn vào xu hướng thị trường và đặt ra câu hỏi, “Chính xác làm thế nào để xác định và đo lường xu hướng của thị trường nhất định?”.

Xu hướng của một thị trường biểu thị sự chuyển động của giá cổ phiếu. Nếu bạn không thể xác định xu hướng, bạn không thể giao dịch trên thị trường hoặc nếu dự đoán sai xu hướng thị trường chung, 70-80% cổ phiếu của bạn sẽ giảm. Hơn nữa, xu hướng thị trường có xu hướng bị ảnh hưởng nặng nề bởi thói quen và hành vi của người tiêu dùng. Vì vậy, bạn nên có công cụ phân tích để xác định mình đang trong giai đoạn thị trường tăng trưởng hay suy thoái, đang ở thời kỳ đầu hay cuối? Thị trường đang vận động như thế nào?….

Giá của một cổ phiếu di chuyển lên và xuống vì sự thay đổi trong nhận thức của các nhà đầu tư về giá trị của một cổ phiếu. Khi tỷ lệ phần trăm người mua lớn hơn tỷ lệ người bán, nhu cầu về cổ phiếu tăng lên, vì vậy, giá tiếp tục tăng. Tương tự như vậy khi tỷ lệ phần trăm của người bán nhiều hơn tỷ lệ phần trăm của người mua, có sự gia tăng nguồn cung cho cổ phiếu, cho nên, giá tiếp tục giảm. Điều này gây ra các xu hướng trên thị trường. Nếu giá đang tăng thị trường tăng trưởng hay có nghĩa là có thêm nhu cầu về cổ phiếu. Nếu giá giảm thị trường suy thoái, có nghĩa là có nhiều nguồn cung hơn nhu cầu đối với cổ phiếu.

  1. Thị trường chung là gì?

“Thị trường chung” là một khái niệm thường được dùng để chỉ những chỉ số phổ biến nhất trên thị trường. Thông qua những chỉ số này, bạn có thể biết được những hoạt động giao dịch hàng ngày mạnh mẽ hay yếu ớt và nó là một trong những dấu hiệu tốt nhất thông báo cho bạn về những xu hướng mới hình thành trên thị trường.

http://images.ndh.vn/Images/Uploaded/Share/2017/11/29/254vnindexaedx.jpg

Ảnh: nguồn Internet

Hiện nay, thị trường chứng khoán Việt Nam có 3 chỉ số chính:

  • Chỉ số chứng khoán Việt Nam, ký hiệu là Vn- Index: là chỉ số thể hiện xu hướng biến động giá của tất cả cổ phiếu niêm yết và giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) TPHCM- HOSE. Với hệ thống chỉ số này, nhà đầu tư có thể đánh giá và phân tích thị trường một cách tổng quát, nhằm thể hiện xu hướng giá cổ phiếu hàng ngày;
  • VN30 index: Là chỉ số giá của 30 công ty niêm yết trên HOSE có giá trị vốn hoá và thanh khoản hàng đầu, đáp ứng các tiêu chí sàng lọc. VN30 là một chỉ số blue-chip của thị trường với các cổ phiếu hàng đầu về giá trị vốn hóa và thanh khoản. VN30 được xây dựng với mục tiêu là tài sản cơ sở cho các sản phẩm ETF và phái sinh chỉ số trong tương lai của Sở GDCK;
  • HNX- index ( Hanoi Stock Exchange): bao gồm một số mã chứng khoán được giao dịch tại Sở GDCK Hà Nội. HNX Index là chỉ số giá dựa trên giá trị vốn hoá thị trường có điều chỉnh tỉ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng của tất cả các cổ phiếu niêm yết và giao dịch trên SGDCK Hà Nội có tỷ lệ tự do chuyển nhượng lớn hơn hoặc bằng 5%. Phương pháp tính toán này giúp cho chỉ số HNX- Index phản ánh chính xác hơn diễn biến giao dịch trên thị trường cổ phiếu niêm yết, loại bỏ ảnh hưởng của những cổ phiếu có khối lượng niêm yết lớn nhưng tỷ lệ tự do chuyển nhượng thấp.

Những chỉ số trên đều có sức ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý NĐT- yếu tố tác động mạnh nhất đến cung cầu ngắn hạn trên thị trường.

  1. Vì sao việc quan sát thị trường lại quan trọng như thế?

Dường như hầu hất các NĐT nhìn nhận không đúng về vai trò của giới phân tích thị trường. Nhà đầu tư nên hiểu rằng nhận định của chuyên gia phân tích thị trường chỉ là tổng hợp xu hướng, đưa ra nhận định có tính cá nhân với các dữ liệu thị trường tại thời điểm đó. Nhận định đó có thể đúng, có thể sai và điều này là hoàn toàn bình thường. Sẽ là sai lầm nếu các NĐT tin tưởng và đặt quá nhiều kỳ vọng vào các chuyên gia phân tích.

Nếu muốn học về TTCK, bạn cần phải quan sát và và nghiên cứu các chỉ số thị trường một cách kỹ lưỡng. Khi thực hiện việc đó, bạn sẽ phát hiện được những thay đổi có ý nghĩa bước ngoặt của thị trường tại các đỉnh tăng trưởng hay đáy suy thoái và học cách tận dụng chúng trong đầu tư.

  1. Các giai đoạn của một chu kỳ thị trường chứng khoán:
https://www.officetooltips.com/images/tips/412_2016/1.png

AnhrL nguồn internet

Mỗi thị trường đều diễn ra theo chu kỳ, lặp đi lặp lại nhiều lần với những nguyên tắc tương tự, chỉ khác nhau ở độ dài mỗi giai đoạn. Nắm bắt được thị trường đang trong giai đoạn nào là điểm then chốt trong chiến lược đầu tư của một nhà đầu tư thành công. Phân tích được chu kỳ thị trường là tiền đề để đưa ra chiến lược tốt nhất, trả lời cho câu hỏi “Nên làm gì lúc này?” cho nhà đầu tư. Liệu rằng đây là lúc mua vào/ bán ra hay đơn giản là cần quan sát thêm?

  • Giai đoạn tích lũy: chính là thời điểm các tổ chức sẽ tiến hành thu mua một số lượng lớn cổ phiếu ở vùng giá thấp với mục tiêu hưởng lợi nhuận từ chênh lệch giá trong các giai đoạn sau. Do lượng vốn của các nhà đầu tư tổ chức rất lớn nên để có thể thu mua được lượng cổ phiếu mong muốn họ sẽ phải duy trì biến động giá ở biên độ nhỏ trong thời gian dài. Do vậy, ở giai đoạn này, sẽ khó có đột phá về giá, những NĐT nên đứng ngoài thị trường và quan sát bởi kể cả có mua thời gian chờ đợi để cổ phiếu tăng giá sẽ rất lâu và sẽ tạo nên sự ức chế cho chúng ta;
  • Giai đoạn đẩy giá: là giai đoạn then chốt trong một chu kỳ thị trường, đây là giai đoạn đem lại nhiều lợi nhuận nhất cho NĐT. Tuy nhiên, không phải cứ khi nào các chỉ số chính hay cổ phiếu tăng giá có thể gọi là bắt đầu quá trình đẩy giá. Đã không ít lần nhà đầu tư vướng phải “Bull trap” (Bẫy tăng trưởng). MUA là chiến lược duy nhất tại thời điểm này, một khi đã xuất hiện đẩy giá ở thị trường chung, nhưng bạn không nên mua tất cả cổ phiếu, mà chỉ nên mua 3-5 cổ phiếu và phải là cổ phiếu dẫn dắt thị trường hoặc dẫn đầu ngành;
  • Giai đoạn phân phối: Sau giai đoạn đẩy giá, giá các cổ phiếu tăng lên và hệ quả tất yếu với đó là áp lực chốt lời đến từ nhiều phía gồm những nhà đầu tư tổ chức, các cổ đông của các doanh nghiệp, và bản thân một bộ phận các nhà đầu tư nhỏ lẻ đã thỏa mãn với mức lợi nhuận giành được. Đó là chưa kể đến việc theo sau một giai đoạn đẩy giá, thông thường sẽ có những đợt phát hành thêm cổ phiếu hoặc IPO của các công ty. Ở thời điểm này, nếu mua đúng theo phương pháp, lợi nhuận của NĐT có thể đạt một mức lãi rất lớn. Thông thường, theo tâm lý chung, khi có lợi nhuận, chúng ta sẽ rất hưng phấn và khi tự tin, ta nâng mức Margin (đòn bẩy tài chính), vay thêm nhiều để tiếp tục mua, lúc này, nếu mua đúng đỉnh, mức lỗ sẽ là khổng lồ. Vậy nên, hãy nhớ khi xác định được đỉnh thị trường. Việc duy nhất cần làm là BÁN để bảo toàn thành quả, dù cho điều đó có đồng nghĩa với việc phải chấp nhận thua lỗ tại một số mã bạn vừa mua gần đó;
  • Giai đoạn đè giá: là giai đoạn mà các tổ chức lớn bán ra hầu hết cổ phiếu để tái đầu tư thông qua đó tạo ra chu trình mới cho thị trường, nên việc cả thị trường tràn ngập màu xanh dương của giá sàn là điều rất bình thường trong thời điểm này, thậm chí có những cổ phiếu sàn nhiều phiên liên tiếp. Ở thời điểm này dù có theo dõi thị trường cũng rất khó khăn để có lãi, thậm chí còn gây thêm lỗ.

Đối với một chu kì thị trường từ giảm đến tăng, việc trải nghiệm sự phục hồi là cần thiết. Tuy nhiên, hãy cẩn trọng vì chu kỳ thị trường sẽ không xảy ra chính xác như khuôn mẫu, sẽ có những sai lệch và nhiệm vụ của chúng ta là giảm thiểu rủi ro tới mức nhỏ nhất.

  1. Hoang đường về khái niệm “đầu tư dài hạn”:
https://www.sgmoneymatters.com/wp-content/uploads/2016/02/long-term-investment.png

Ảnh: nguồn SGmoneymatter.com

Chiến lược của nhiều NĐT là vẫn đầu tư đầy đủ (không rút vốn ra khỏi thị trường) bất kể trong thời điểm thuận lợi hay bất lợi. Đây chính là một sai lầm của các NĐT tự cho mình là nhà đầu tư dài hạn, vì họ sẽ không trụ lại được trước những đợt điều chỉnh trong giai đoạn suy thoái gần như đạp đổ thị trường hoàn toàn và không thể lường trước được các điều kiện kinh tế có thể sẽ trở nên tồi tệ đến mức nào và chúng sẽ kéo dài bao lâu. Trong giai đoạn suy thoái, đa số cổ phiếu sẽ mất giá, và khó có thể phục hồi được lại tất cả. Cho nên, bạn nên học cách bán ra khi thị trường chung thay đổi và khi cổ phiếu không thành công. Dưới đây là một số lời khuyên giúp những người có ý định đầu tư dài hạn đúng cách và có hiệu quả:

  • Bán đi những cổ phiếu mất giá và giữ những cổ phiếu được giá: Thông thường, các NĐT kiếm lời bằng cách bán các khoản đầu tư tăng giá, nhưng lại giữ những cổ phiếu rớt giá với hi vọng rằng một ngày nào đó nó sẽ phục hồi. Nếu không xác định được thời điểm để bán đi những cổ phiếu đó, trong viễn cảnh xấu nhất, NĐT sẽ phải chứng kiến các cổ phiếu này chạm đáy đến mức gần như vô giá trị. Chính vì thế, bạn hãy nghiên cứu kỹ để đánh giá các công ty dựa trên giá trị của họ. Trong mỗi tình huống, bạn nên cân nhắc liệu rằng mức giá có phản ánh đúng tiềm năng của công ty hay không và đừng để nỗi sợ hãi làm hạn chế lợi nhuận hay gia tăng thua lỗ của bạn;
  • Nên có lập trường riêng: Phần lớn nhà đầu tư ít kinh nghiệm hiện tại đều mắc phải sai lầm khi bảo thủ với các loại kiến thức chung như ‘nhà đầu tư không thể tối đa hóa được lợi nhuận sau khi giá cổ phiếu tăng đến một cấp số nhân nhất định’. Tóm lại, nhà đầu tư nên học hỏi, nghiên cứu thêm các loại kiến thức ngoài dựa trên những kiến thức mình đã có, bởi họ không thể sinh lời từ cổ phiếu nếu không thực sự hiểu rõ tiềm năng của công cụ đầu tư hiện đang có. Ngoài ra, bạn không nên ngay lập tức nghe theo hướng dẫn nào từ bạn bè, người thân hay thậm chí nhà môi giới. Khi quyết định đầu tư, một điều rất quan trọng là bạn phải biết lý do tại sao, sau đó tự mình nghiên cứu và phân tích các công ty trước khi xem xét đến việc đầu tư vào cổ phiếu của công ty, doanh nghiệp đó;
  • Đừng quá coi trọng tỷ lệ P/E: Các NĐT thường quá coi trọng hệ số giá trên thu nhập cổ phần (P/E). Chỉ sử dụng tỷ lệ này để quyết định mua hoặc bán sẽ là liều lĩnh và thiếu khôn ngoan bởi đây chỉ là một trong số rất nhiều các công cụ bạn có thể dùng. Tỷ lệ P/E phải được hiểu trong một bối cảnh cụ thể, và nên được sử dụng kết hợp với các kết quả phân tích khác. Vì vậy, một tỷ lệ P/E thấp không hẳn có nghĩa là chứng khoán bị định giá thấp, và tương tự một tỷ lệ P/E cao cũng không có nghĩa là công ty đó đang được định giá cao;
  • Tránh xa cổ phiếu giá rẻ: Một quan niệm sai lầm phổ biến là nhà đầu tư nên mua cổ phiếu giá rẻ vì nếu có mất giá cũng không đáng là bao nhiêu. Trong thực tế, một cổ phiếu giá rẻ còn rủi ro hơn so với cổ phiếu giá cao hơn vốn chịu sự quản lý nghiêm ngặt hơn;
  • Có tầm nhìn dài hạn: Những khoản lợi nhuận lớn trong ngắn hạn thường hấp dẫn những người mới tham gia thị trường. Tuy nhiên, mọi nhà đầu tư cần có tầm nhìn dài hạn, và nên thử kiếm tiền bằng cách giao dịch chủ động trong ngắn hạn. Tuy nhiên, như chúng ta đã đề cập, đầu tư và giao dịch là những cách rất khác nhau để tạo ra lợi nhuận từ thị trường. Giao dịch còn đi kèm với những rủi ro rất khác với những gì nhà đầu tư mua và nắm giữ phải đối mặt. Do đó, mỗi người nên có một phương pháp khác nhau lựa chọn cổ phiếu và hiện thực mục tiêu đầu tư, hãy xác định một hướng đi và tránh việc sử dụng tất cả các chiến lược.
  1. Cách xác định đỉnh tăng trưởng và đáy suy thoái của thị trường chứng khoán:
  • Đỉnh tăng trưởng: Việc xác định được đỉnh tăng trưởng của thị trường rất quan trọng, nó giúp NĐT tối đa hóa lợi nhuận và hạn chế thua lỗ trong đầu tư. Tại thời điểm tiệm cận đỉnh của thị trường ( thời điểm các tổ chức bán ra chốt lời lượng lớn các cổ phiếu), nền kinh tế vĩ mô Việt Nam thường sẽ có các dấu hiệu như: lãi suất ở mức thấp hoặc có các thông tư, nghị định về việc giảm lãi suất, nền kinh tế có nhiều tín hiệu tích cực (tăng trưởng GDP, lạm phát giảm, CPI giảm,…), thông tin vĩ mô tốt dày đặc trên phương tiện truyền thông (BĐS ấm lên, Chứng khoán tăng trưởng,…).

Một NĐT thông minh không chỉ quan sát cổ phiếu mình nắm mà còn cẩn trọng dõi theo những mã cổ phiếu khác. Từ đó, họ sẽ thấy tại đỉnh: cổ phiếu đầu cơ (Penny) chạy mạnh quanh vùng đỉnh với khối lượng rất lớn, cổ phiếu tăng trưởng từ nền thứ 3 với mẫu hình lỏng lẻo, cổ phiếu dẫn đầu trong giai đoạn ‘đẩy giá chạy nước rút’ và tiến hành ‘phân phối’ đỉnh. Và thị trường sẽ xuất hiện các phiên tăng mạnh (3-5%) và các phiên Vol tăng mạnh, nhưng chỉ số đứng yên. Hiện tượng này sẽ diễn ra trong từ 1-5 phiên trước khi thị trường chính thức sụp đổ. Vì vậy, khi xuất hiện những nhịp điều chỉnh mạnh (4% trở lên) NĐT nên chốt lời khoảng 30-50% lượng cổ phiếu mình đang nắm giữ để bảo toàn lợi nhuận. Vì trong trường hợp cổ phiếu không giảm tiếp cũng rất mất thời gian để đi lên sau sự giả mạnh đó.

Nói tóm lại, điều cần làm ở đỉnh tăng trưởng của thị trường là bán ra tất cả những cổ phiếu bạn đang nắm giữ, đặc biệt ưu tiên những mã trong các tài khoản Margin.

  • Đáy suy thoái: NĐT ai cũng muốn biết được đáy của TT để nhảy vào mua được cổ phiếu ở giá thấp nhất, nhưng việc xác định được đáy của TT không hề đơn giản. Các tín hiệu cho thấy thị trường đang tạo đáy như: khối lượng giao dịch giảm ở mức gần như thấp nhất nhưng sau đó từ từ tăng trở lại, biên độ dao động của thị trường ở vùng đáy thường rất thấp, bất chấp thông tin tốt hay xấu tràn ngập và lên đỉnh điểm, sự tham gia tích cực của nhà đầu tư định chế, bình quân lệnh mua lớn hơn bình quân lệnh bán, báo cáo tài chính của các công ty niêm yết vẫn xấu nhưng không xấu hơn nữa, thanh khoản suy giảm mạnh và tăng từ từ trở lại.

Ngày “bùng nổ theo đà”: chỉ số chứng khoán ở cả 2 sàn tăng điểm mạnh (khoảng 1.5 -3%) với khối lượng lớn. Ngày này thường xuất hiện trong khoảng 4 – 7 phiên sau đáy. Cho nên, chỉ khi có ngày này mới xác định được đâu mới là đáy thật. Thông thường ngày này sẽ có các ‘kịch bản’ như: đầu phiên giảm 3% rồi cuối phiên hồi phục 2%, giảm 2% vào phiên trước rồi tăng trở lại 3-4% vào ngày hôm sau (ngày bùng nổ theo đà).

Ngoài ra, sẽ có 3-5 lần trì kéo rũ bỏ ở chỉ số chính trước khi thị trường đổi chiều, nên bạn tuyệt đối chưa mua vào khi có dấu hiệu tăng nhẹ hay biên độ rơi giảm dần, vì rất có thể bạn sẽ nhầm lẫn với một đợt Bull Trap, vì vậy, bạn chỉ nên mua khi trong phiên có những diễn biến mạnh mẽ, thuyết phục và mua cổ phiếu dẫn đầu.

  1. Những chỉ báo khác của thị trường:

Các NĐT sử dụng một số phương pháp để phân tích giá cổ phiếu. Các nhà phân tích chứng khoán áp dụng các công cụ để quyết định xem họ nên mua hay bán một cổ phiếu, với giá thị trường hiện tại. Phân tích cơ bản xem xét hiệu quả tài chính của công ty, đặc biệt là lợi nhuận của công ty. Mặt khác, phân tích kỹ thuật xem xét các xu hướng trong giá cổ phiếu và khối lượng cổ phiếu được giao dịch. Cả hai loại phân tích được sử dụng để quyết định có nên mua hay bán cổ phiếu. Hiểu được quy mô thị trường là quan trọng nhưng biết liệu thị trường đang có xu hướng tăng hay giảm cũng là yếu tố quan trọng cho việc ra quyết định chiến lược và tiếp thị.

  • Phân tích kỹ thuật xem xét các số liệu thống kê liên quan đến hoạt động TT của cổ phiếu. Hai thống kê được sử dụng rộng rãi là sự thay đổi lịch sử của cổ phiếu trong giá cổ phiếukhối lượng giao dịch của cổ phiếu. Xu hướng lịch sử trong giá cổ phiếu có thể được sử dụng để dự đoán một sự thay đổi trong tương lai về giá cổ phiếu. Còn khối lượng giao dịch là số lượng cổ phiếu của một cổ phiếu được giao dịch mỗi ngày. Các nhà phân tích kỹ thuật cũng tin rằng những thay đổi trong khối lượng giao dịch có thể được sử dụng để dự đoán một sự thay đổi trong giá cổ phiếu.

Kết quả khối lượng giao dịch thường được kết hợp với các loại phân tích khác để đưa ra quyết định mua hoặc bán cổ phiếu. Giả sử cổ phiếu phổ thông của IBM thường giao dịch 100.000 cổ phiếu mỗi ngày. Nếu số lượng cổ phiếu được giao dịch tăng hoặc giảm mạnh, đó có thể là dấu hiệu của xu hướng. Ví dụ, giả sử khối lượng giao dịch tăng lên 150.000 cổ phiếu mỗi ngày. Đồng thời, trung bình động của cổ phiếu bắt đầu tăng mạnh. Sự gia tăng cả hai chỉ báo kỹ thuật này có thể cho thấy tín hiệu mua vào cổ phiếu. Phân tích kỹ thuật cho thấy giá cổ phiếu đang tăng. Tăng khối lượng với xu hướng tăng cho thấy sự tích lũy, trong khi tăng khối lượng với xu hướng giảm có nghĩa là thanh lý. Nếu khối lượng giao dịch tăng lên và đường trung bình động giảm mạnh, điều đó có thể cho thấy xu hướng giảm của cổ phiếu. Các nhà phân tích kỹ thuật có thể kết luận rằng nhiều người đang bán cổ phiếu, do sự gia tăng khối lượng giao dịch và sự suy giảm giá.

  • Các chỉ báo kỹ thuật khác mà các chuyên gia kỹ thuật xem xét để xác định các cơ hội mua hoặc bán bao gồm các mức hỗ trợ và hỗ trợ ngắn hạn. Lãi suất ngắn đo tổng số cổ phần của một cổ phiếu đã được bán ngắn mà không bị bao trả hoặc đóng cửa. Lãi suất cao là một “lá cờ đỏ”. Các mức hỗ trợ và “kháng cự” ám chỉ mức giá mà giá của một tài sản sẽ không đi theo một hướng nhất định;
  • Sử dụng giá trung bình của cổ phiếu để xác định xu hướng thị trường. TB động chỉ đơn giản là tăng giá của một cổ phiếu trong một khoảng thời gian nhất định và chia tổng số đó cho số ngày giao dịch trong kỳ. TB động là một thống kê được sử dụng để biểu đồ một xu hướng theo giá của một cổ phiếu cụ thể. Giả sử, ví dụ, bạn thêm giá mà cổ phiếu IBM cho giao dịch 10 ngày đầu tiên của tháng 10, sau đó chia tổng số cho 10. Giá trung bình là $150. Ngày giao dịch đề cập đến các ngày trong tuần mà thị trường chứng khoán mở cửa. Sau đó bạn lặp lại phép tính mỗi ngày giao dịch vào ngày 11/ 10, bạn tính trung bình động cho 10 ngày giao dịch trước đó, kể cả ngày thứ 11. Tính toán TB động mỗi ngày sẽ hơi khác nhau. Giả sử phân tích của bạn cho thấy giá trung bình di động là 150 đô la; 150,75 đô la và 152 đô la. Theo thời gian, xu hướng giá cổ phiếu đang tăng dần.

Nếu TB động bắt đầu tăng với tốc độ nhanh hơn, thay đổi đó chỉ ra rằng một NĐT kỹ thuật nên mua cổ phiếu. Mặt khác, nếu trung bình động giảm với tốc độ nhanh hơn, nhà đầu tư kỹ thuật có thể bán cổ phiếu. Xu hướng này được coi là bị phá vỡ khi giá cổ phiếu phá vỡ đường trung bình động.

Các NĐT mới thường thích sử dụng các đường trung bình động ngắn hạn vì họ theo sát giá gần hơn. Họ có thể có cách sử dụng của họ, nhưng vì xu hướng là xu hướng dài hạn của thị trường, một đường trung bình ngắn hạn không thích hợp để đo lường xu hướng. Đường trung bình động 50 và đường trung bình động 200 theo truyền thống là hai trong số các đường trung bình động được sử dụng phổ biến nhất.

  1. Hệ thống CAN SLIM:
http://www.daututangtruong.com.vn/images/william-o-neil.jpg

Ảnh: nguồn internet

CAN SLIM là là một phương pháp chọn mua chứng khoán nổi tiếng được nhiều người biết đến do William O’Neil sáng tạo ra. Phương pháp này bao hàm cả phân tích cơ bản và phân tích kĩ thuật. Đây là một hệ thống đầu tư vào cổ phiếu dẫn đầu trong các thời kỳ tăng trưởng của TTCK. Nó gồm 7 đặc điểm làm nên sự thành công của các cổ phiếu dẫn đầu chất lượng cao:

C = Current Quarterly Earning per Share (lợi tức trên cổ phần quý gần nhất): càng cao càng tốt và nếu vốn đầu tư không nhiều nên chọn cổ phiếu có lợi tức trên cổ phần quý hiện tại cao trên thị trường. Lợi nhuận hàng quý tăng đột biến luôn cho thấy công ty đã và đang có sự phát triển đột phá một cách thần kỳ;

A = Annual Earning Increases (Tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận hàng năm): cổ phiếu tốt là cổ phiếu có mức gia tăng lợi nhuận đều đặn năm sau so với năm trước (chỉ tiêu thông thường được tính cho 03 năm) và NĐT cần đặc biệt lưu ý tới các cổ phiếu có mức gia tăng lợi nhuận hàng năm trên vốn cổ phần đạt từ (ROE ) từ 17% trở lên, những công ty tốt nhất sẽ có lợi suất từ 25% – 50%;

N = New Products, New Management, New Highs (sản phẩm mới, lãnh đạo mới, đỉnh giá mới): Hãy tìm kiếm những công ty có sản phẩm hoặc dịch vụ mới, ban lãnh đạo mới, hoặc những thay đổi đáng chú ý của ngành công nghiệp của nó. Và đặc biệt là hãy mua cổ phiếu khi chúng vừa đột phá từ những nền tảng biểu đồ vững chãi và đang leo lên những đỉnh giá mới;

S = Supply and Demand ( quy luật cung và cầu): nên lựa chọn cổ phiếu tốt cộng với nhu cầu lớn, các bluechips. Tìm những cổ phiếu có khối lượng giao dịch tăng mạnh khi nó vừa đột phá khỏi nền tảng giá của nó;

L = Leader or Laggard (dẫn dắt hay đội sổ): nên chọn các cổ phiếu đứng đầu một ngành, dẫn dắt thị trường và tránh những cổ phiếu đội sổ. Chỉ số sức mạnh giá tương đối của hầu hết cổ phiếu dẫn đầu đều sẽ đạt mức lớn hơn hoặc bằng 80, 90 điểm;

I = Institutional Sponsorship (sự bảo trợ của các tổ chức): mua những cổ phiếu có số tổ chức bảo trợ tăng lên và có ít nhất là 1 vài tổ chức có thành tích xuất sắc trong thời gian gần đây. Hãy tìm những công ty mà các nhà lãnh đạo sở hữu nhiều cổ phiếu;

M = Market Direction (xu hướng thị trường): sự quan trọng của xu hướng thị trường tới từng cổ phiếu, xu hướng thị trường có tác động tới tất cả các cổ phiếu mà không hề có ngoại lệ. Dù một cổ phiếu có đủ cả C A N S L I nhưng M đi xuống cổ phiếu đó cũng không nằm ngoài quy luật.

BÌNH LUẬN()

Bài viết mới đăng

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

TƯ VẤN CHỨNG KHOÁN

Tầng 18 Tòa nhà VCCI 09 Đào Duy Anh, Đống Đa, Hà Nội.

0916 766 323

dautuphatdat@gmail.com | 0916 766 323

Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Nguyễn Đức Hùng

Bản quyền thuộc về Đầu Tư Phát Đạt

0916 766 323