SELECT MENU

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư phân tích cơ bản

Lượt xem: 106 - Ngày:

Chuyên gia kỹ thuật chỉ quan tìm đến dao động giá của cổ phiếu, trong khi đó mối quan tâm chính của chuyên gia phân tích cơ bản lại là giá trị thực của một loại cổ phiếu. Họ cố gắng tránh bị ảnh hưởng bởi tâm lý lạc quan và bi quan của đám đông, đồng thời chỉ ra sự khác biệt rõ ràng giữa giá hiện tại và giá trị thực của một loại cổ phiếu. Các chuyên gia áp dụng phương pháp cơ bản hy vọng quá trình nghiên cứu cẩn thận, tỉ mỉ các điều kiện của lĩnh vực kinh doanh sẽ cung cấp cho họ những thông tin chi tiết, và giá trị về các nhân tố có thể hữu ích trong tương lai nhưng chưa được phản ánh trong mức giá thị trường. Chuyên gia phân tích sử dụng bốn yếu tố quyết định cơ bản để ước tính giá trị hợp lý của bất kỳ cổ phiếu nào. Bốn yếu tố này giúp bảo vệ nhà đầu tư tránh bị cuốn vào cơn sốt đầu cơ.

Yếu tố quyết định thứ 1: Tỷ lệ tăng trưởng kỳ vọng.

Ảnh minh họa: Nguồn Lynda

Hầu hết mọi người không nhận thấy tác động của mức tăng trưởng kép đối với các quyết định tài chính. Albert Einstein từng mô tả mức lãi suất kép là “phát minh toán học vĩ đại nhất mọi thời đại”. Người ta thường nói rằng một người Mỹ bản xứ bán hòn đảo Manhattan với giá 24 đô-la năm 1626 do bị người da trắng xỏ mũi. Thế nhưng trên thực tế, có thể đó là người bán hàng cực kỳ khôn ngoan. Nếu ông gửi tiết kiệm 24 đô-la với lãi suất 6%, tăng gấp đôi sáu tháng một lần, thì có thể bây giờ khoản tiền đó đã nhiều hơn 100 tỷ đô-la, với khoản tiền này con cháu của ông có thể mua lại phần lớn vùng đất giờ đây đã được cải thiện nhiều. Tăng trưởng kép thật kỳ diệu.

Tương tự, tác động của tăng trưởng kép với mức cổ tức trong tương lai có thể khiến nhiều người ngạc nhiên. Theo tính toán thì một doanh nghiệp tăng trưởng 15% có nghĩa là cổ tức sẽ tăng gấp đôi 5 năm/lần.

Cái bẫy (và phải chăng lúc nào cũng phải có ít nhất một, nếu không phải là 22 cái bẫy?) đó là tỷ lệ tăng cổ tức không thể kéo dài mãi mãi, đơn giản là vì các tập đoàn và lĩnh vực kinh doanh cũng có chu kỳ vòng đời giống như hầu hết động vật sống. Hãy thử xem xét các tập đoàn hàng đầu ở Mỹ cách đây hơn 100 năm. Những c|i tên như Eastern Buggy Whip Company, La Crosse & Minnesota Steam Packet Company, Lobdell Car Wheel Company, Savannah & St. Paul Steamboat Line và Hazard Powder Company, đã phát triển thành công rực rỡ lúc bấy giờ, chắc hẳn sẽ được xếp thứ hạng cao trong danh sách 500 công ty hàng đầu của thời đại đó. Thế nhưng, hiện tại tất cả những cái tên này đều đã đi vào dĩ vãng.

Thậm chí ngay cả khi công ty không có chu kỳ vòng đời tự nhiên, vẫn tồn tại một sự thật  là càng ngày càng khó duy trì tốc độ tăng trưởng. Một công ty có mức thu nhập 1 triệu đô-la chỉ cần tăng thu nhập lên 100 nghìn đô-la thì sẽ đạt được tỷ lệ tăng trưởng 10%, trong khi đó một công ty khởi đầu với mức thu nhập 10 triệu đô-la, cần phải tăng thu nhập thêm 1 triệu đô-la thì mới đạt được mức tăng trưởng tương tự.

Nếu việc định giá của thị trường mang chút ý nghĩa, thì các dự đoán này có thể nguy hiểm vì giá cổ phiếu phải phản ánh sự khác biệt trong triển vọng tăng trưởng. Tương tự như vậy, khoảng thời gian tăng trưởng cũng cực kỳ quan trọng. Nếu một công ty kỳ vọng duy trì mức tăng trưởng 20% trong vòng 10 năm, trong khi đó một công ty khác chỉ kỳ vọng giữ mức tăng trưởng này trong vòng 5 năm. Trong điều kiện các yếu tố khác đều như nhau, đối với giới đầu tư công ty thứ nhất chắn chắn có giá hơn công ty thứ hai. Điểm đáng nói ở đây là tỷ lệ tăng trưởng thường chung chung chứ không thật sự đáng tin. Chính luận điểm này đã đưa chúng ta đến quy tắc cơ bản thứ nhất của việc định giá chứng khoán:

Quy tắc 1: Một nhà đầu tư khôn ngoan sẵn lòng trả mức giá cao hơn cho một loại cổ phiếu nếu tỷ lệ tăng cổ tức và lợi nhuận lớn hơn.

Đi kèm với quy tắc là này một hệ quả quan trọng:

Hệ quả của quy tắc 1: Một nhà đầu tư khôn ngoan sẵn lòng trả mức giá cao hơn cho một loại cổ phiếu, nếu tỷ lệ tăng trưởng phi thường được kỳ vọng trong dài hạn.

Liệu quy tắc này có phù hợp với thực tiễn hay không? Trước hết chúng ta hãy viết lại câu hỏi này dưới dạng chỉ số P/E thay vì giá thị trường. Cách viết này cung cấp một thước đo hữu ích để so sánh các loại cổ phiếu có giá và thu nhập khác nhau. Một cổ phiếu được bán ở mức 100 đô-la/cổ phần với lợi nhuận 10 đô-la/cổ phần sẽ có chỉ số P/E (10) bằng với loại cổ phiếu được bán ở mức 40 đô-la/cổ phần và lợi nhuận 4 đô-la/cổ phần. Như vậy, chính chỉ số P/E, chứ không phải là giá| tính theo đô-la, thật sự nói cho bạn biết một loại cổ phiếu được định giá như thế nào trên thị trường.

Yếu tố quyết định thứ 2: Tỷ lệ trả cổ tức được kỳ vọng.

Ảnh minh họa: Nguồn Internet

Trái với tỷ lệ tăng trưởng, mức cổ tức bạn nhận được mỗi lần thanh toán là một nhân tố quan trọng trong việc xác định giá của một loại cổ phiếu. Nếu các yếu tố khácđều như nhau, thì mức cổ tức được chi trả càng cao, giá trị của cổ phiếu càng lớn. Cái bẫy ở đây chính là cụm từ “các yếu tố khác đều như nhau”. Cổ phiếu có tỷ lệ thu nhập được chi trả bằng cổ tức cao có thể là khoản đầu tư không hiệu quả nếuloại cổ phiếu đó không hứa hẹn triển vọng tăng trưởng tốt. Ngược lại, có nhiều công ty đang trong thời kỳ phát triển hưng thịnh nhất thường chỉ trả rất ít hoặc không trả thu nhập bằng cổ tức. Nhiều công ty có xu hướng mua lại cổ phần của mình thay vì tăng cổ tức. Đối với hai công ty có tỷ lệ tăng trưởng kỳ vọng bằng nhau, bạn sẽ đầu tư có lãi hơn nếu chọn loại cổ phiếu có tỷ lệ trả cổ tức cao hơn.

Quy tắc 2: Nếu các yếu tố khác đều như nhau, một nhà đầu tư khôn ngoan sẽ sẵn lòng trả mức giá cao hơn cho một loại cổ phiếu với điều kiện tỷ lệ thu nhập (của công ty) được chi trả bằng cổ tức dưới dạng tiền mặt lớn hơn.

Yếu tố quyết định thứ 3: Mức độ rủi ro.

Ảnh minh họa: Nguồn crowdstreet-marketing

Cho dù người môi giới lạc quan nói gì chăng nữa, rủi ro vẫn đóng vai trò rất quan trọng trên thị trường chứng kho|n. Lúc nào cũng có rủi ro – và đó chính là yếu tố khiến hoạt động đầu tư trở nên thú vị. Nguy cơ rủi ro cũng  ảnh hưởng đến việc định giá cổ phiếu. Một số người cho rằng nguy cơ rủi ro chính là khía cạnh duy nhất cần được nghiên cứu của một loại cổ phiếu.

Loại cổ phiếu càng được tin tưởng, tức lâm nguy cơ rủi ro càng thấp, chất lượng cổ phiếu càng cao. Chẳng hạn, các loại cổ phiếu của công ty blue-chip xứng đáng với phần thưởng vì chất lượng. Phần lớn giới đầu tư đều chuộng cổ phiếu ít rủi ro hơn, vì vậy các loại cổ phiếu này có thể có chỉ số P/E cao hơn so với cổ phiếu nhiều rủi ro, chất lượng thấp.

Mặc dù mọi người thường đồng ý là nguy cơ rủi ro cao có thể được đền đ|p bằng khoản đền bù lớn hơn trong tương lai, thế nhưng việc xác định mức độ rủi ro gần như là điều không thể. Tuy nhiên, điều này cũng không làm chuyên gia kinh tế nản chí. Cả giới đầu tư vấn chuyên gia kinh tế lý thuyết đều đặc biệt chú ý đến việc xác định mức độ rủi ro.

Theo một học thuyết nổi tiếng, giá cổ phiếu của một công ty (hay tổng tiền lãi hàng năm, kể cả cổ tức) dao động – tương ứng với thị trường chung – càng nhiều, nguy cơ rủi ro càng lớn. Chẳng hạn, loại cổ phiếu không dao động như Johnson & Johnson thậm chí có thể nhận được con dấu chấp thuận của tờ tạp chí phụ nữ Good Housekeeping, phù hợp với “Góa phụ và trẻ mồ côi”. Đó là bởi vì lợi nhuận của hãng này không bị sụt giảm nhiều nếu thị trường rơi vào tình trạng suy thoái, đồng thời cổ tức vẫn được đảm bảo. Vậy nên, khi thị trường giảm xuống 20%, J&J có lẽ chỉ giảm khoảng 10%. Do đó, cổ phiếu này được xếp vào loại cổ phiếu có độ rủi ro thấp hơn mức trung bình. Trái lại, tập  đoàn Cisco Systems, có kết quả hoạt động trong quá khứ bất ổn, và thường giảm từ 40% giá trị trở lên khi thị trường chỉ sụt giảm 20%. Cổ phiếu của tập đoàn này được gọi là “chim cắt” hay một “khoản đầu tư rủi ro của doanh nhân”. Nhà đầu tư sẽ chơi một

canh bạc mạo hiểm khi sở hữu cổ phiếu của một công ty như vậy, nhất là khi họ có thể buộc phải bán tháo cổ phiếu nếu tình hình thị trường không thuận lợi.

Tuy nhiên, khi hoạt động kinh doanh suôn sẻ và thị trường có xu hướng tăng được duy trì ổn định, người ta có thể kỳ vọng cổ phiếu của Cisco vượt xa J&J. Song nếu giống hầu hết các nhà đầu tư khác, bạn sẽ coi trọng khoản tiền lãi ổn định hơn là hy vọng đầu cơ để không phải thức trắng nhiều đêm lo nghĩ về danh mục đầu tư, đồng thời hạn chế nguy cơ thua lỗ khi vòng quay lao xuống. Nếu các yếu tố khác đều như nhau, bạn sẽ thích loại chứng khoản ổn định hơn. Điều này đưa đến quy tắc cơ bản thứ ba về định giá cổ phiếu:

Quy tắc 3: Nếu các yếu tố khác đều như nhau, một nhà đầu tư khôn ngoan (và không ưa rủi ro) sẽ sẵn lòng trả mức gi| cao hơn cho một loại cổ phiếu với điều kiện nguy cơ rủi ro thấp hơn.

Yếu tố quyết định thứ 4: Mức lãi suất thị trường.

Thị trường cổ phiếu không phải là thế giới khép kín. Nhà đầu tư cần xem xét họ có thể thu được bao nhiêu lợi nhuận từ những nguồn khác.

Nếu mức lãi suất đủ cao, đó có thể là một giải pháp thay thế hợp lý cho thị trường chứng khoán. Hãy thử nghiên cứu giai đoạn đầu thập niên 1980 khi lợi nhuận từ trái phiếu chất lượng cao tăng vọt lên gần 15%. Trái phiếu dài hạn có chất lượng thấp hơn một chút thậm chí còn được chào bán với mức lãi suất cao hơn. Tiền lãi kỳ vọng từ giá cổ phiếu đã gặp khó khăn trong việc bắt kịp với tỷ lệ lãi suất của các trái phiếu đó; tiền vẫn được đổ vào trái phiếu trong khi giá cổ phiếu sụt giảm mạnh. Cuối cùng, giá cổ phiếu chạm đến mức thấp đủ để xuất hiện số lượng nhà đầu tư cần thiết có khả năng ngăn giá tiếp tục giảm. Năm 1987, tỷ lệ lãi suất lại tăng đáng kể ngay trước khi thị trường chứng khoán sụp đổ v{o ng{y 19/10. Nói cách khác, để thu hút nhà đầu tư sở hữu các loại trái phiếu có tỷ lệ sinh lời cao, cổ phiếu phải có mức giá chào đặc biệt (tức là mức giá chào phải hạ xuống).

Mặt khác, khi lãi suất quá thấp, trái phiếu có lãi suất cố định hầu như không thể cạnh tranh trên thị trường chứng khoán và giá cổ phiếu luôn kh| cao. Chính điều này đã chứng minh quy tắc cơ bản thứ tư của phương pháp phân tích cơ bản.

Quy tắc 4: Nếu các yếu tố khác đều như nhau, một nhà đầu tư khôn ngoan sẽ sẵn lòng trả mức giá cao hơn cho một loại cổ phiếu với điều kiện tỷ lệ lãi suất thấp hơn.

Nguồn: A Random Walk Down Wall. Street – Burton G.Malkiel

BÌNH LUẬN()

Bài viết mới đăng

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

TƯ VẤN CHỨNG KHOÁN

Tầng 21 Tòa nhà VCCI 09 Đào Duy Anh, Đống Đa, Hà Nội.

0916 766 323

dautuphatdat@gmail.com | 0916 766 323

Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Nguyễn Đức Hùng

Bản quyền thuộc về Đầu Tư Phát Đạt

0916 766 323