SELECT MENU

Báo cáo thị trường tài chính tiền tệ Việt nam tháng 11 2019 – Dec 6 2019

Lượt xem: 161 - Ngày:

Thị trường tiền tệ duy trì được tâm lý lạc quan trong tháng 11,  USD vẫn giữ được vị thế cao trước thông tin kinh tế vĩ mô của Mỹ tích cực và số liệu việc làm mới tăng so với kỳ vọng. Trong khi đó, vận động của VN Index trong tháng 11 được chia thành hai giai đoạn rõ rệt. Nếu như khoảng thời gian đầu tháng chứng kiến sự bứt phá của chỉ số lên trên ngưỡng tâm lý 1000 điểm thì giai đoạn còn lại, chỉ số quay đầu giảm mạnh. VN Index đóng cửa phiên cuối tháng 11 tại mức 970.75 điểm, giảm 2.81% so với cuối tháng 10. VN30 Index vận động tương tự, mất 3.81% giá trị về 887.47 điểm. Cụ thể về thị trường tài chính tiền tệ Việt Nam Hùng xin chia sẻ trong bài viết sau.

Thị trường tiền tệ

USD tăng giá, tâm lý lạc quan được duy trì

Dù chưa ghi nhận bước tiến cụ thể nào trong mối quan hệ Mỹ – Trung nhưng hai nước vẫn khẳng định về triển vọng tiến tới một thỏa thuận giai đoạn 1, nhờ vậy tâm lý tích cực tiếp tục được duy trì trong tháng 11, kênh trú ẩn là JPY và vàng đều giảm giá, lần lượt là -1.35% và -3.24% MoM.

Tín hiệu khả quan về đám phán thương mại khiến tỷ giá USD/CNY có thời điểm đã giảm dưới mốc 7.0 nhưng sau đó tăng trở lại, dao động quanh mức 7.03 CNY/USD. Các chỉ số công nghiệp, bán lẻ, đầu tư đều cho thấy kinh tế Trung Quốc đang đi xuống. Trong tháng 11, PBoC đã giảm đồng loạt 5bps các lãi suất điều hành: lãi suất công cụ cho vay trung hạn – MLF (3.25%/năm), lãi suất repo kỳ hạn 7 ngày (2.5%/năm), lãi suất cho vay cơ bản – LPR kỳ hạn 1 năm (4.15%/năm). Bắc Kinh đang chấp nhận đánh đổi những rủi ro của hệ thống ngân hàng và nguy cơ lạm phát để kích thích nền kinh tế đang giảm tốc. Trong bối cảnh đó, áp lực giảm giá của đồng CNY vẫn còn lớn.

Trái lại, ở phía Mỹ, các chỉ báo vĩ mô cho thấy nền kinh tế Mỹ vẫn khá vững vàng. Tăng trưởng GDP quý III của Mỹ ước tính lần 2 đạt 2.1%, cao hơn 0.2% so với số ước tính lần 1, số liệu việc làm phi nông nghiệp tăng tốt, chỉ số sản xuất PMI tháng 11 là 52.6 – tăng 1.3 điểm so với tháng trước. FED tái khẳng định quan điểm giữ nguyên lãi suất 1.5-1.75% sau 3 lần điều chỉnh trong năm 2019, hỗ trợ đồng USD tăng giá, chỉ số DXY tăng +0.95% MoM, lên mức 98.3 vào cuối tháng 11.

Đồng tiền của các nước chịu nhiều ảnh hưởng từ chiến tranh thương mại như EUR, KWR, SGD, TWD… giảm giá sau bước tăng rất mạnh vào tháng 10. Các thông tin liên quan đến thỏa thuận thương mại Mỹ – Trung vẫn khó lường và vì vậy thị trường tài chính, tiền tệ vẫn có thể có biến động mạnh trong tháng 12. Trường hợp Mỹ – Trung đạt được thỏa thuận “tối thiểu” thị trường sẽ chú ý nhiều hơn đến các chỉ số kinh tế và động thái từ các ngân hàng Trung Ương. Với dự báo đa phần các quốc gia ngoài Mỹ đều tăng trưởng chậm lại, đồng USD nhiều khả năng sẽ được giữ giá.

dh2097.png

Chính sách tiền tệ của NHNN Việt Nam dịch chuyển theo hướng hỗ trợ tăng trưởng rõ nét hơn

Sau tín hiệu dừng hạ lãi suất của FED, làn sóng nới lỏng tiền tệ trên thế giới cũng có vẻ chững lại trong tháng 11, chỉ ghi nhận 10 NHTW giảm lãi suất trong tháng vừa qua trong đó có Trung Quốc, Thái Lan, Mexicô; bằng một nửa so với số lượng NHTW cắt giảm lãi suất hàng tháng giai đoạn tháng 8-10/2019.

Tuy nhiên, xu hướng giảm lãi suất trở lên rõ nét hơn ở Việt Nam với các động thái mạnh mẽ từ NHNN, hướng tới mục tiêu giảm ít nhất 0.5%/năm lãi suất cho vay trong năm 2020 mà Thủ tướng Chính phủ đã phát biểu trước Quốc hội. Cụ thể, NHNN đã bơm ròng 103.176 tỷ đồng trên thị trường mở; giảm lãi suất mua kỳ hạn (OMO) từ 4.5%/năm xuống 4%/năm – bước giảm lớn nhất (50bps) trong 5 năm trở lại đây, là lần giảm thứ 2 trong năm nay; tái khởi động lại kênh OMO sau gần 3 tháng không giao dịch; trần lãi suất tiền gửi ngắn hạn và cho vay lĩnh vực ưu tiên đồng loạt hạ xuống thấp hơn 0.5%/năm so với mức cũ.

Lãi suất VND trên liên ngân hàng đi ngang ở mức thấp quanh 2%/năm trong nửa đầu tháng 11 nhưng bất ngờ tăng mạnh lên quanh 4%/năm với kỳ hạn qua đêm trong 2 tuần cuối tháng khi nguồn cung tiền đồng từ các NHTM lớn sụt giảm. Tháng 11 là tháng có hiệu lực đầu tiên của Thông tư 58/2019/TT-BTC về quản lý và sử dụng tài khoản của Kho bạc Nhà nước, theo đó tiền gửi không kỳ hạn của KBNN sẽ được quản lý tập trung về tài khoản của KBNN ở Sở giao dịch NHNN thay vì để tại các NHTM.

Số dư tiền gửi có kỳ hạn của KBNN tại 4 NHTM lớn là khoảng 250.000 tỷ đồng (theo báo cáo tài chính quý 3/2019). Trong đó chủ yếu là tiền gửi có kỳ hạn và các NHTM cũng đã chủ động cơ cấu lại kỳ hạn để giảm thiểu ảnh hưởng của Thông tư 58, như Vietcombank giảm số dư tiền gửi không kỳ hạn của KBNN từ hơn 31 nghìn tỷ đồng vào cuối 2018 xuống còn 5.332 tỷ đồng vào 30/9/2019, BIDV cũng giảm từ gần 19 nghìn tỷ đồng xuống 4.642 tỷ đồng vào 30/9/2019. Bởi vậy, thực chất việc áp dụng thông tư mới có làm sụt giảm số dư tiền gửi không kỳ hạn của KBNN tại các NHTM nhưng tác động không lớn. Biến động thanh khoản một phần đến từ việc quay vòng các khoản tiền gửi có kỳ hạn tại NHTM. Sau một thời gian có hiệu lực của Thông tư 58, cơ chế vận hành nhuần nhuyễn hơn cùng sự điều hành tập trung từ NHNN có thể giảm thiểu tác động từ biến động dòng tiền của KBNN đến thanh khoản và thị trường liên ngân hàng.

Thông thường lãi suất qua đêm trên liên ngân hàng sẽ dao động trong một hành lang từ lãi suất tín phiếu đến lãi suất OMO, hiện tại là 2.25% đến 4.0%/năm. Trong tháng cao điểm cuối năm, nhiều khả năng lãi suất liên ngân hàng sẽ duy trì ở ngưỡng cao, tức là quanh 4%/năm và giảm trở lại sau Tết nguyên đán.

dh2098.png

Đã có những tác động nhất định đến lãi suất huy động trên thị trường 1

Ngoại trừ 4 NHTM nhà nước và một vài NHTM lớn, lãi suất huy động các kỳ hạn 1 đến dưới 6 tháng của hầu hết các NHTM trong những tháng gần đây đều đang ở mức 5.5%/năm nên khi trần lãi suất huy động giảm, một loạt các NHTM cũng điều chỉnh giảm lãi suất ở kỳ hạn này về mức 5%/năm kể từ ngày 19/11/2019. Điểm đáng chú ý là các kỳ hạn dài hơn cũng đã bắt đầu giảm, rõ rệt nhất là ở nhóm các NHTM có thị phần nhỏ (giảm 20-30bps), thu hẹp mức chênh lệch lãi suất với nhóm các NHTM lớn. Lãi suất huy động kỳ hạn dưới 6 tháng dao động trong khoảng 4.1-5.0%/năm, từ 6 đến dưới 12 tháng trong khoảng 5.5-7.5%/năm và từ 12-13 tháng là 6.4-7.9%/năm.

Theo số liệu từ NHNN, tính đến hết 9 tháng 2019, mặc dù tăng trưởng tín dụng (9.4% Ytd) thấp hơn so với cùng kỳ 2018 (10.33% Ytd) nhưng tổng phương tiện thanh toán (cung tiền M2) đã đạt 10.08 triệu tỷ đồng, tăng 9.47% Ytd, cao hơn khá nhiều mức tăng 9.04% Ytd của cùng kỳ 2018 nhờ các giao dịch mua vào ngoại tệ. Bên cạnh việc thể hiện quan điểm hỗ trợ tăng trưởng rõ ràng hơn, NHNN cũng đã ban hành Thông tư 22/2019/TT-NHNN về tỷ lệ đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng và Thông tư 18/2019/TT-NHNN quy định về cho vay tiêu dùng của các công ty tài chính. Việc kiểm soát tăng trưởng tín dụng tổng thể cùng với lộ trình siết chặt các quy định an toàn về vốn và tín dụng cho thấy quan điểm điều hành thận trọng của NHNN. Giảm lãi suất vẫn đang được cân đối với kiểm soát lạm phát, tỷ giá và sự phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng.

Trong tháng 12, cung cầu ngoại tệ vẫn thuận lợi nhưng do lạm phát nên lãi suất thị trường 1 sẽ khó giảm. Tuy nhiên, sang năm 2020, với dự báo lạm phát sẽ hạ nhiệt nhanh sau Tết nguyên đán, lãi suất huy động có thể tiếp tục được định hướng giảm tiếp 0.5%-1% từ đó kéo giảm lãi suất cho vay. Các kỳ hạn dài trên 12 tháng sẽ giảm chậm hơn do các quy định về tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn và vẫn có sự phân hóa lãi suất giữa các nhóm NHTM lớn và nhỏ.

Theo quy định tại Thông tư 22, giới hạn tỷ lệ cấp tín dụng so với huy động (LDR) của các NHTM sẽ được thống nhất ở mức 85% thay vì áp dụng mức 90% với các NHTM nhà nước, 80% với NHTM tư nhân và nước ngoài. Tại 30/9/2019, LDR của nhóm các NHTM nhà nước đang là 91.47% và của các NHTM cổ phần đang là 84.6%. Với quy định mới này, các NHTM nhà nước vốn dĩ có nguồn vốn dồi dào nhưng đầu ra tín dụng sẽ bị hạn chế hơn do các quy định về an toàn vốn và tỷ lệ LDR. Trong khi đó, các NHTM cổ phần còn dư địa để gia tăng tín dụng, do đó có thể sẽ chấp nhận mức lãi suất huy động cao hơn.

dh2099.png

Tỷ giá diễn biến trái chiều ở ngân hàng và tự do nhưng biên độ dao động nhỏ, nhìn chung tỷ giá vẫn ổn định

Lãi suất VND trên liên ngân hàng tăng mạnh nửa cuối tháng 11 trong khi lãi suất USD lại giảm khoảng 25bps sau bước cắt giảm lãi suất lần 3 FED vào cuối tháng 10 khiến cho chênh lệch lãi suất VND-USD tăng mạnh từ mức xấp xỉ 0 lên tới 2.4%/năm. Cùng với đó là bối cảnh quốc tế ổn định, tỷ giá USD/CNY giảm về quanh mốc 7.0 nên tỷ giá USD/VND giao dịch trên ngân hàng giảm 10đ/USD, về mức 23.110/23.260; chênh lệch tỷ giá mua vào – bán ra giữ ở mức cao (150đ/USD). Như vậy, tỷ giá mua vào của ngân hàng tại cuối tháng 11 đã thấp hơn thời điểm cuối năm 2018 là 55đ/USD, tương đương 0.24%. Trong khi đó, yếu tố mùa vụ lại khiến tỷ giá tự do nhích tăng 60đ/USD, lên 23.240/23.260, tương đương tăng 0.26% MoM nhưng vẫn thấp hơn 0.13% so với thời điểm cuối năm 2018.

Ngoại trừ 2 tháng 5 và 6 tỷ giá bật tăng do leo thang chiến tranh thương mại khiến đồng CNY mất giá, tỳ giá mua vào của các NHTM luôn ở mức ngang bằng hoặc thấp hơn tỷ giá mua vào của NHNN là 23.200đ/USD. Nhờ vậy, NHNN đã mua được lượng lớn ngoại tệ, nâng dự trữ ngoại hối lên mức kỷ lục 73 tỷ USD, tương đương khoảng 14 tuần nhập khẩu và các NHTM cũng gia tăng lợi nhuận từ hoạt động ngoại hối. Vào ngày giao dịch cuối cùng của tháng, NHNN đã giảm tỷ giá mua vào 25đ/USD, xuống 23.175đ/USD. Lực hút ngoại tệ về NHNN có thể giảm bớt, gián tiếp đẩy nguồn cung ngoại tệ ở lại thị trường trong giai đoạn cao điểm cuối năm. Đồng thời, động thái này tạo tín hiệu về chính sách quản lý linh hoạt, có tăng, có giảm không chỉ cho các thành viên thị trường mà cho cả các cơ quan nước ngoài khi đánh giá về chủ trương điều hành tỷ giá của Việt nam.

Bước vào tháng cuối năm, có rất nhiều yếu tố cùng đan xen tác động lên tỷ giá. Ngoài các diễn biến phức tạp từ bên ngoài, trong nước, cầu ngoại tệ tăng cao phục vụ nhu cầu nhập khẩu hàng hóa, thặng dư thương mại giảm mạnh, trạng thái ngoại tệ của các NHTM cũng bớt dồi dào do đã bán một lượng lớn ngoại tệ về NHNN sẽ tạo áp lực lên tỷ giá. Tuy nhiên ở chiều ngược lại, chênh lệch lãi suất VND-USD trên liên ngân hàng nới rộng, dòng kiều hối và ngoại tệ từ các giao dịch hợp tác kinh doanh, bán vốn vẫn tích cực sẽ hỗ trợ neo giữ tỷ giá. Rất có thể tỷ giá USD/VND cuối năm 2019 sẽ thấp hơn hoặc bằng tỷ giá cuối năm 2018, đánh dấu một năm điều hành tỷ giá thành công của NHNN.

Thực tế, việc giữ tỷ giá ổn định trong năm 2019 phản ánh các nền tàng vĩ mô tích cực của Việt Nam nhưng cũng khiến VND tăng giá trong tương quan với các đối tác lớn. Các quốc gia này vẫn đang mở rộng quy mô nới lỏng tiền tệ, đồng nội tệ của họ sẽ còn giảm giá trong năm 2020 và vì vậy về lâu dài sẽ tạo ra bất lợi nhất định cho hàng hóa Việt nam nếu VND vẫn giữ giá. Xét trong bối cảnh tổng thể cùng việc cân đối với quan hệ thương mại Việt – Mỹ, mức điều chỉnh của đồng VND trong năm 2020 nếu có sẽ nằm trong khoảng 1%- 2% và sẽ được điều chỉnh dần từng bước tùy thuộc vào các diễn biến trên thế giới.

dh2100.png

Thị trường trái phiếu

Giảm lãi suất OMO khiến lợi tức TPCP nối dài chuỗi giảm

Lãi suất trúng thầu các kỳ hạn tưởng như đã chững lại, thậm chí nhích tăng trong 3 phiên đấu thầu đầu tháng khi nhu cầu tiền đồng tăng cao trên liên ngân hàng và các NHTM lớn cũng đã giao dịch đủ lượng TPCP. Tuy nhiên, cầu TPCP bất ngờ tăng mạnh trở lại vào tuần cuối cùng tháng 11 khi NHNN giảm lãi suất OMO, phát đi tín hiệu rõ ràng hơn về nới lỏng tiền tệ. Toàn bộ 5.500 tỷ đồng TPCP gọi thầu các kỳ hạn 10,15 và 20 năm đều được phát hành hết dù lãi suất trúng thầu giảm đồng loạt từ 9-30bps, ghi nhận phiên đấu thầu thành công nhất trong tháng.

Tính chung cả tháng 11 có 13.279 tỷ đồng TPCP được phát hành, tỷ lệ trúng thầu/lượng gọi thầu bình quân tháng là 78.5%, kỳ hạn trúng thầu bình quân là 14.24 năm – cao hơn so với mức 13.7 năm của 2 tháng trước đó. Lũy kế 11 tháng có 187.911 tỷ đồng TPCP được phát hành, hoàn thành 72.3% kế hoạch phát hành cả năm 2019; kỳ hạn trúng thầu bình quân là 13.5 năm – cao hơn khá nhiều mức bình quân 12.15 năm của năm 2018. Lãi suất trúng thầu các kỳ hạn 5, 7, 10, 15, 20, 30 năm hiện ở mức 2.37%, 3.0%, 3.51%, 3.65%, 4.02% và 4.64%/năm – là vùng lãi suất thấp nhất trong lịch sử.

dh2101.png

Lợi tức TPCP trên thứ cấp tiếp tục giảm nhưng mức độ giảm chỉ là 6-16bps so với mức 40-60bps của tháng trước. Lũy kế từ đầu năm, lợi tức trái phiếu đã giảm trên dưới 2%/năm ở các kỳ hạn 5 năm trở xuống và giảm khoảng 1.5%/năm ở các kỳ hạn trên 5 năm. Giao dịch bình quân phiên đạt 10.526 tỷ đồng, tăng 18.7% so với tháng trước và là tháng có mức giao dịch bình quân cao nhất từ đầu năm đến nay.

Trong tháng 11, NĐTNN đã bán ròng 672 tỷ đồng TPCP, ghi nhận tháng bán ròng thứ 2 liên tiếp sau 9 tháng mua ròng trước đó. Tuy vậy, lũy kế 11 tháng, NĐTNN vẫn mua ròng gần 14 nghìn tỷ đồng TPCP trên thị trường thứ cấp.

dh2102.png

Lượng phát hành TPDN 11 tháng đầu năm đã vượt tổng lượng phát hành cả năm 2018

Trong tháng 11/2019, có 24.199 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp được phát hành đưa tổng lượng phát hành 11 tháng đầu năm là 206.680 tỷ đồng bao gồm cả phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng. Con số này chưa bao gồm các các đợt phát hành riêng lẻ trong 3 tháng đầu năm 2019 do chưa được công bố chi tiết. Tuy nhiên, căn cứ dữ liệu tổng hợp kết quả phát hành riêng lẻ lũy kế 10 tháng của HNX, chúng tôi ước tính lượng phát hành riêng lẻ 3 tháng đầu năm 2019 là khoảng 30.000 tỷ đồng. Như vậy, tổng lượng TPDN thực tế phát hành 11 tháng đầu năm là khoảng 237 nghìn tỷ đồng, cao hơn 5.8% so với tổng lượng phát hành trong cả năm 2018.

Kỳ hạn và lãi suất bình quân toàn thị trường là 3.71 năm và 8.7%/năm. Trong đó nhóm có kỳ hạn dài nhất là nhóm phát triển hạ tầng (5.14 năm); nhóm bất động sản có lãi suất bình quân 10.24%, cao hơn hẳn các nhóm ngân hàng, định chế tài chính, phát triển hạ tầng nhưng vẫn thấp hơn nhóm các doanh nghiệp khác (10.49%) do ảnh hưởng của lô phát hành 1.402 tỷ đồng kỳ hạn 5 năm, lãi suất 20%/năm của CTCP Đầu tư Thương mại Hồng Hoàng.

Trong tháng 11, nhà đầu tư nước ngoài mua 100 tỷ đồng trái phiếu 12 tháng của công ty chứng khoán KIS Việt Nam và 456.7 tỷ đồng trái phiếu chuyển đổi kỳ hạn 4 năm của CTCP Nhựa Đồng Nai. Tổng lượng mua sơ cấp của NĐTNN trong 11 tháng đầu năm 2019 là gần 14 nghìn tỷ đồng – chiếm xấp xỉ 7% khối lượng phát hành.

dh2103.png

Sau tháng 10 chững lại, tháng 11 các NHTM lại đẩy mạnh phát hành trái phiếu với 14.149 tỷ đồng trái phiếu mới, đưa số lũy kế phát hành của các NHTM trong 11 tháng lên mức 94 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng cao nhất (45.5%) trong các nhóm ngành tham gia phát hành TPDN. Riêng BIDV phát hành 8.618 tỷ đồng, trong đó có 2.800 tỷ đồng là trái phiếu phát hành ra công chúng, đây là đợt phát hành ra công chúng lần thứ 2 của ngân hàng này sau đợt phát hành 3.000 tỷ vào tháng 9/2019. Từ đầu năm đến nay, BIDV đã phát hành tổng cộng 12.817 tỷ đồng trái phiếu có kỳ hạn từ 6 đến 10 năm và đủ tiêu chuẩn để tính vào vốn cấp 2 của ngân hàng này, toàn bộ đều có lãi suất thả nổi với biên độ cộng thêm từ 1.1-1.4%/năm so với lãi suất tiền gửi tiết kiệm 12 tháng. Ngoài BIDV, trong tháng qua, MBB cũng phát hành thêm 80 tỷ đồng kỳ hạn 10 năm để tăng vốn cấp 2; các ngân hàng còn lại gồm VPB, VIB, LPB, SHB, HDB, Seabank chỉ phát hành các kỳ hạn 2-3 năm với lãi suất cố định 6.3-7.0%/năm

Các doanh nghiệp bất động sản phát hành 6.952 tỷ đồng trong tháng 11, và tổng cộng 71.312 tỷ đồng trong 11 tháng 2019 – chiếm 34.5% tổng lượng phát hành toàn thị trường. Lô phát hành lớn nhất trong tháng là 2.029 tỷ đồng của CTCP Tiếp vận và BĐS Tân Liên Phát Tân Cảng với kỳ hạn 12 tháng và do 1 định chế tài chính mua toàn bộ. Techcombank là tổ chức quản lý tài sản đảm bảo, tài khoản tiền trái phiếu, lãi suất các kỳ thả nổi của trái phiếu cũng được tham chiếu theo lãi suất cho vay ngắn hạn của Techcombank, tài sản đảm bảo là cổ phần của Vingroup – một đối tác lớn của Techcombank. Các lô phát hành trái phiếu bất động sản lớn khác gồm: 1.500 tỷ đồng trái phiếu 5 năm của CTCP Du lịch Thung lũng Nữ Hoàng, 1.135 tỷ đồng trái phiếu 18 tháng của CTCP Veracity- chủ đầu tư dự án Summit Building (Hà Nội); 570 tỷ đồng trái phiếu 2 năm của Vinametric – chủ khách sạn Saigon Prince Hotel; 500 tỷ trái phiếu kèm chứng quyền của Tập đoàn Hà Đô; 500 tỷ đồng trái phiếu 3 năm của Hưng Thịnh Land;…

dh2104.png

Thị trường chứng khoán

Vận động của VN Index trong tháng 11 được chia thành hai giai đoạn rõ rệt. Nếu như khoảng thời gian đầu tháng chứng kiến sự bứt phá của chỉ số lên trên ngưỡng tâm lý 1000 điểm thì giai đoạn còn lại, chỉ số quay đầu giảm mạnh. VN Index đóng cửa phiên cuối tháng 11 tại mức 970.75 điểm, giảm 2.81% so với cuối tháng 10. VN30 Index vận động tương tự, mất 3.81% giá trị về 887.47 điểm

GTGD cải thiện đáng kể nhờ mức tăng đồng đều ở cả kênh thỏa thuận và khớp lệnh. Thanh khoản bình quân phiên trên HOSE đạt 4.67 nghìn tỷ đồng (+16.6% MoM), tương ứng với quy mô giao dịch cao nhất kể từ tháng 3/2019. Phiên 13/11 ghi nhận GTGD cao nhất tháng với 6.7 nghìn tỷ đồng, nhờ GDTT hơn 1.2 nghìn tỷ đồng đến từ CTG.

dh2105.png

Lần đầu tiên kể từ Q1/2019, VN Index chinh phục thành công ngưỡng 1000 điểm và thiết lập mức đỉnh tạm thời trong năm nay tại 1,024.91 điểm vào ngày 06/11. Động lực hỗ trợ cho VN Index đến chủ yếu diễn biến tích cực của TTCK trên toàn cầu cùng với sự nâng đỡ của một vài cổ phiếu vốn hóa lớn như VHM và VRE

Mỹ và Trung Quốc tiến gần hơn tới một thỏa thuận thương mại mới. Tháng 11 chứng kiến những bước tiến quan trọng của Mỹ và Trung Quốc trong hoạt động đàm phán thương mại. Quan hệ thương mại Mỹ – Trung tích cực thúc đẩy chứng khoán Hoa Kỳ tăng điểm. S&P 500 tiếp nối xu hướng tăng được hình thành từ tháng 10/2019, thiết lập mức đỉnh lịch sử mới quanh mức 3,153 điểm vào ngày 27/11. CBOE VIX giảm mạnh 4.5% MoM, phản ánh tâm lý tích cực của nhà đầu tư Hoa Kỳ.

dh2106.png

VHM, VRE tăng giá trong những phiên đầu của tháng 11 nhờ thông tin tăng trưởng lợi nhuận và mua cổ phiếu quỹ. Theo đó, LNST Q3 của Vinhomes và Vincom Retail tăng tương ứng 52% YoY và 29% YoY; VHM và VRE cũng đăng ký mua lần lượt 60 triệu và 56.5 triệu cổ phiếu làm cổ phiếu quỹ, giao dịch trực tiếp trên sàn.

VHM tăng trần ngay phiên đầu tiên của tháng, và duy trì tăng trong 4 phiên liên tiếp sau đó. Xét trong tháng 11, VHM là cổ phiếu nâng đỡ nhiều nhất cho chiều đi lên của VN Index, bên cạnh BID (+ 3.15% MoM), VRE (+ 3.77% MoM).

dh2107.png

Ở chiều ngược lại, sự giảm điểm của VNIndex bắt đầu diễn ra từ phiên 07/11 và kéo dài cho đến hết tháng. Các nhịp hồi phục trong giai đoạn này đều yếu ớt cho thấy tâm lý thị trường chuyển rất nhanh sang trạng thái tiêu cực và thận trọng.

NĐTNN tiếp tục bán ròng. Tính trong tháng 11, NĐTNN bán ròng 104 tỷ đồng qua kênh khớp lệnh trên HOSE, tương ứng với tháng thứ 4 liên tiếp bán ròng, mặc dù vậy quy mô đã giảm đi đáng kế so với 3 tháng liền trước (hơn 1 nghìn tỷ đồng mỗi tháng). Tính thêm kênh thỏa thuận, khối ngoại đã bán ròng 1.06 nghìn tỷ đồng trên HOSE. Giao dịch của nhóm này tập trung vào VNM (-1.66 nghìn tỷ đồng) và CTG (-1.24 nghìn tỷ đồng). VRE và VHM dẫn đầu top mua ròng với quy mô 945 tỷ đồng và 298 tỷ đồng. Nhiều cổ phiếu vốn hóa lớn, tăng giá nhiều trong tháng 9 và 10 như VNM và nhóm ngân hàng VCB, CTG, HDB… đồng loạt bị bán ròng đã quay đầu giảm giá mạnh trong tháng 11, kéo theo sự giảm điểm của VNIndex.

Tính toàn thị trường, nhờ lực mua ròng trên HNX, tổng giá trị bán ròng thu hẹp về 948 tỷ đồng, trong đó có 111 tỷ đồng thực hiện qua kênh khớp lệnh.

dh2108.png

Phiên tâm lý 21/11 là một phiên giao dịch rất khác biệt và bất ngờ với áp lực bán mạnh trong phiên ATC không xuất phát từ việc cơ cấu lại danh mục của ETF như vẫn thường xảy ra. VNIndex có phiên giảm mạnh nhất trong tháng (-1.27%). Tâm lý thận trọng cũng bắt đầu phản ánh vào diễn biến của thị trường trong các ngày sau đó.

Khoảng 1-2 tuần trước khi hợp đồng tương lai VN30F1911 đáo hạn (21/11), biên độ chênh lệch (basis) dương hấp dẫn của HĐTL đã thúc đẩy một số nhà đầu tư thực hiện chiến lược arbitrage, cụ thể là Short đối với HĐTL, đồng thời Long đối với cơ sở (danh mục mô phỏng VN30). Đến ngày đáo hạn, nhóm này thực hiện đóng trạng thái arbitrage bằng cách Short cơ sở nhưng không Long HĐTL, mà để HĐTL tự đáo hạn. Áp lực bán tập trung vào phiên 21/11 khiến VN30 Index và VNIndex giảm mạnh. Thống kê giao dịch khối tự doanh chứng khoán cho thấy giá trị bán ròng 807 tỷ đồng trong ngày 21/11, vượt trội so với biên độ mua/bán ròng trong các phiên còn lại của tháng. Tuy vậy, tính chung cả tháng khối tự doanh vẫn mua ròng 45 tỷ đồng, với 16 phiên mua ròng so với 5 phiên bán ròng.

dh2109.png

Trong tháng 12, những rủi ro từ bên ngoài vẫn còn rất lớn. Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đang kỳ vọng Mỹ và Trung Quốc sẽ ký kết thỏa thuận thương mại vào năm 2020. Điều này có nghĩa danh sách thuế tự vệ 4B của Mỹ sẽ bắt đầu có hiệu lực từ ngày 15/12, thuế suất áp dụng là 15% đối với 175 tỷ USD hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc. Sau khi Mỹ thông qua đạo luật Hong Kong, phía Trung Quốc cũng đã bắt đầu có những hành động phản ứng theo hướng ngày một gay gắt, tạo ra các căng thẳng khó lường cho đàm phán thương mại.

Quỹ Van Eck ETF và DB FTSE thực hiện đợt tái cơ cấu vào ngày 20/12, một ngày sau khi đáo hạn hợp đồng tương lai (19/12). Sự cộng hưởng của 2 yếu tố này sẽ khiến nhà đầu tư trong nước trở nên vô cùng thận trọng.

Ở góc độ tích cực, dòng tiền mới, đặc biệt là dòng tiền nước ngoài được kỳ vọng sẽ tích cực hơn. Việc ba chỉ số của sàn HOSE đi vào vận hành, bao gồm VN Diamond Index, VN Fin Lead và VN Fin Select là tiền đề cho các quỹ ETF mới. Xu hướng dòng vốn trên toàn cầu cũng đang tích cực hơn với cổ phiếu và thị trường mới nổi do lãi suất giảm và dự báo tăng trưởng kinh tế 2020 sẽ có chút khởi sắc nhờ các biện pháp kích thích kinh tế của Chính phủ các nước.

Sau nhịp giảm mạnh kể từ tháng 11 sang đầu tháng 12, trailing P/E của VN Index hiện đang vận động ở mức thấp nhất kể từ tháng 2/2019. Nền giá thấp sẽ thúc đẩy dòng tiền giải ngân, đặc biệt hướng tới nhóm cổ phiếu được dự báo có kết quả kinh doanh Q4 và 2020 tích cực. Do đó, chúng tôi kỳ vọng vào một nhịp hồi phục của VN Index sau đợt giảm vừa qua, tuy nhiên với những yếu tố tác động trái chiều đã liệt kê ở trên đây, các nhịp giằng co tích lũy có thể xuất hiện trong quá trình hồi phục của chỉ số.

 

                                                                Nguồn: SSI

 

BÌNH LUẬN()

Bài viết mới đăng

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

TƯ VẤN CHỨNG KHOÁN

Tầng 18 Tòa nhà VCCI 09 Đào Duy Anh, Đống Đa, Hà Nội.

0916 766 323

dautuphatdat@gmail.com | 0916 766 323

Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Nguyễn Đức Hùng

Bản quyền thuộc về Đầu Tư Phát Đạt

0916 766 323