SELECT MENU

Báo cáo thị trường tài chính tiền tệ Việt nam tháng 08/2019

Lượt xem: 83 - Ngày:

Vàng trở thành kênh đầu tư có mức sinh lời tốt nhất kể từ đầu năm, VND giữ giá ổn định trong tháng 08, Khối ngoại bán ròng hơn 1.73 nghìn tỷ đồng qua kênh khớp lệnh trên sàn HOSE,… là một số cập nhật của thị trường tài chính tiền tệ mà Đầu Tư Phát Đạt muốn gửi tới nhà đầu tư trong bài viết này.

Chúng tôi xin được gửi tới các nhà đầu tư Báo cáo Thị trường Tài chính Tiền tệ Việt Nam tháng 8/2019 với những nội dung như sau:

Thị trường tiền tệ

Một tháng chao đảo của thị trường toàn cầu

Tâm điểm tháng 8 là những đòn “ăn miếng trả miếng” theo mức độ ngày càng gay gắt của 2 bên Mỹ- Trung. Sau đúng 1 tháng lắng dịu, cuộc chiến được khởi động lại với tuyên bố áp thuế lên 300 tỷ USD hàng hóa Trung Quốc từ 1/9 của Tổng thống Trump. Và lần này, ngoài thuế quan đáp trả, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBOC) đã chủ động nâng tỷ giá tham chiếu và để đồng CNY mất giá qua mốc 7.0 CNY/USD – ngưỡng tâm lý vẫn được coi là sự thể hiện thiện chí của phía Trung Quốc trong đàm phán thương mại với Mỹ. Dù Mỹ có phản ứng bằng việc gán nhãn thao túng tiền tệ thì PBOC vẫn liên tục hạ giá đồng nội tệ, CNY ghi nhận mức giảm giá mạnh nhất theo tháng kể trong vòng 25 năm qua. Cụ thể, tỷ giá tham chiếu USDCNY tăng mạnh từ 6.8841 lên 7.0879, tương đương mức tăng 3% MoM; tỷ giá giao dịch tăng từ 6.8842 lên 7.1567, tương đương mức tăng 3.96% MoM và 4.04% Ytd.

Bên cạnh đó, Trung Quốc tiếp tục bơm mạnh tiền vào nền kinh tế và thay đổi cơ chế điều hành lãi suất cho vay để tăng hiệu lực điều hành của PBOC sau khi đón nhận các thông tin về tăng trưởng tín dụng, sản lượng công nghiệp và doanh số bán lẻ kém tích cực của tháng 7. Làn sóng nới lỏng tiền tệ trên toàn cầu lan rộng, có 23 NHTM đã giảm lãi suất điều hành trong tháng 8 và theo tính toán của Central Bank News, mức lãi suất danh nghĩa trung bình của 95 NHTW trên thế giới đã giảm 38bps kể từ đầu năm đến nay. Diễn biến này càng hối thúc Tổng thống Mỹ tăng sức ép lên FED, tuy vậy, cơ quan này vẫn từ chối lời đề nghị của Trump và nhấn mạnh sự độc lập của mình. Xác suất FED giảm lãi suất tại phiên họp 18/9 vẫn ở mức rất cao nhưng nhiều khả năng FED sẽ chỉ giảm ở mức tối thiểu 25bps, xuống vùng 1.75% -2.0%/năm. Đồng USD tiếp tục mạnh lên, chỉ số DXY lên sát mức 99, hầu hết các đồng tiền đều giảm giá so với USD ngoại trừ các đồng tiền trú ấn như JPY, CHF.

Sự leo thang của cuộc chiến Mỹ – Trung cộng hưởng với các chỉ báo kinh tế bi quan của Anh, Châu Âu, bất ổn Hồng Kông, căng thẳng Nhật Bản- Hàn Quốc, khủng hoảng ở Argentina đã khiến tâm lý e sợ rủi ro dâng cao. Các kênh trú ẩn đều tăng giá mạnh: vàng tăng 7.5% MoM, lên vùng trên 1.500 USD/oz – vùng đỉnh trong hơn 6 năm gần đây; đồng JPY tăng 2.3% MoM; TPCP Mỹ tiếp tục giảm sâu ở tất cả các kỳ hạn, đường cong lợi tức đảo ngược với kỳ hạn 2 năm và 3 tháng lớn hơn kỳ hạn 10 năm, lợi tức kỳ hạn 30 năm ở mức thấp nhất trong lịch sử (1.9626%/năm).

Thị trường tiền tệ

Vàng trở thành kênh đầu tư có mức sinh lời tốt nhất kể từ đầu năm đến nay

Trong 8 tháng đầu năm, mức sinh lời cao nhất trong các kênh đầu tư truyền thống ở cả thị trường trong nước và quốc tế thuộc về vàng. Giá vàng quốc tế tăng tới 18.5% Ytd khiến giá vàng trong nước cũng tăng tới 16% Ytd, vượt mức sinh lời của kênh cổ phiếu và bỏ xa các kênh đầu tư trái phiếu, tiền gửi và JPY. Đợt tăng giá mạnh gần nhất của vàng là giai đoạn 2008-2012 khi Mỹ vật lộn với cuộc khủng hoảng nợ, FED duy trì chính sách nới lỏng tiền tệ và đồng USD yếu, vàng đã tăng giá liên tục, đạt đỉnh cao nhất trong lịch sử 1.918 USD/oz vào cuối tháng 8/2011 (tức cao hơn vùng giá hiện tại gần 24%) và bắt đầu giảm rất mạnh từ 2013.

Cũng cần lưu ý rằng, so với thời điểm 2011, đồng USD hiện tại mạnh hơn rất nhiều. Nếu so sánh cặp tỷ giá USD/EUR thì đồng USD của thời điểm hiện tại có giá trị hơn USD của thời điểm cuối 2011 tới gần 20%. Điều đó có nghĩa là giá vàng hiện tại đang gần tương đương với vùng giá đỉnh lịch sử. Vàng cũng là hàng hóa có yếu tố đầu cơ khá cao nên các nhà đầu tư cần hết sức thận trọng với các quyết định đầu tư vào vàng tại thời điểm này.

Mức sinh lời các tài sản

VND giữ giá ổn định nhờ các yếu tố tích cực trong nước

Theo số liệu mới công bố của Ngân hàng Nhà nước, cán cân tổng thể Q2.2019 của Việt Nam là +1.93 tỷ USD, lũy kế 6 tháng 2019 là +9.14 tỷ USD. Cán cân thương mại tháng 8 thăng dư khoảng 1.7 tỷ USD – cao hơn nhiều mức thặng dư của tháng 7 (43.2 triệu USD), lũy kế 8 tháng thặng dư 3.4 tỷ USD. Dòng vốn FDI giải ngân trong tháng đạt 1.41 tỷ USD, lũy kế cả năm là 11.96 tỷ USD – tăng 6.3% YoY. Nhờ vậy, nguồn cung USD trong tháng vừa qua rất dồi dào, bất chấp sự lên giá của USD và mất giá mạnh của CNY, VND gần như đi ngang. Chốt tháng, tỷ giá giao dịch USDVND giảm 10đ/USD trên ngân hàng, về mức 23.130/23.250 và tăng 40/30 đ/USD trên thị trường tự do, lên mức 23.210/23.230.

Trái với tỷ giá giao dịch, tỷ giá trung tâm vẫn tiếp tục được điều chỉnh tăng 60đ/USD trong tháng vừa qua, tính cả 8 tháng 2019, tỷ giá này đã tăng 308đ/USD – tương đương 1.35% Ytd, lên mức 23.133đ/USD, là mức cao hơn cả tỷ giá mua vào của các NHTM. Nguyên nhân cơ bản là do 5/8 đồng tiền trong rổ tiền tệ để xác định tỷ giá trung tâm USDVND là EUR, CNY, SGD, KRW, TWD đều giảm giá mạnh so với USD giai đoạn vừa qua.

NHNN vẫn giữ nguyên tỷ giá mua vào là 23.200đ/USD, tức là cao hơn tỷ giá mua vào của các NHTM 0.3% nên tiếp tục mua vào được lượng khá lớn ngoại tệ, tổng lượng mua vào ước tính còn lớn hơn lượng mua trong tháng 7. Dự trữ ngoại hối của Việt Nam hiện tại đang ở mức cao nhất trong lịch sử, sẽ là tấm đệm quan trọng giúp NHNN điều hành tỷ giá. Chênh lệch lãi suất VND-USD ở mức trên 1%, nguồn cung giai đoạn tới dự kiến vẫn dồi dào từ hoạt động thương mại, đầu tư và chuẩn bị bước vào mùa kiều hối nên nhiều khả năng tỷ giá USDVND sẽ tiếp tục ổn định quanh vùng 23.200.

VND giữ giá ổn định

Nhóm 10 nước có kim ngạch thương mại lớn nhất với Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2019 là Trung Quốc, Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Thái Lan, Ấn Độ, Malaysia, Đức và Indonesia. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với 10 nước này trong 7 tháng 2019 là 208.4 tỷ USD – tương đương 73.4% tổng kim ngạch thương mại của nước ta với toàn thế giới. Trong đó, Việt Nam nhập siêu từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Malaysia, Indonesia; xuất siêu sang Mỹ, Đức, Ấn Độ và Nhật. Việc VND giữ giá khá ổn định với USD trong thời gian vừa qua đã khiến tiền đồng tăng giá so với khá nhiều các đồng tiền khác.

Hoạt động thương mại với Đức và Ấn Độ, Indonesia và Thái Lan có thể có một số khó khăn do diễn biến tỷ giá. Việt Nam xuất siêu sang Đức và Ấn độ nhưng VND lên giá so với EUR và INR, nhập siêu từ Indonesia, Thailand nhưng VND mất giá so với IDR và THB. Tuy nhiên, cán cân thương mại với 4 nước này khá nhỏ. VND tăng giá so với CNY, KWR và TWD đã giúp hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, những nước Việt nam nhập siêu nhiều nhất trở nên rẻ hơn, làm giảm chi phí đầu vào cho các doanh nghiệp Việt Nam.

Cán cân thương mại

Lãi suất đi ngang trong tháng vào nóng lên vào những ngày cuối tháng

Trong tháng 8, NHNN bơm ròng 68.4 nghìn tỷ đồng trên thị trường mở, cùng với giao dịch mua vào ngoại tệ đã hỗ trợ nguồn cung VND khá dồi dào, lãi suất trên LNH dao động ổn định quanh mức 3%/năm với kỳ hạn qua đêm. Tuy nhiên, lãi suất này bật lên 4.35% vào cuối tháng dù NHNN đã bơm ròng hơn 31.000 tỷ đồng chỉ riêng trong tuần cuối tháng. Nhu cầu VND tăng cao trước kỳ nghỉ lễ 2/9 và đảm bảo nguồn dự trữ bắt buộc đầu tháng trong khi khối ngân hàng TMCP nhà nước giảm nguồn cung là nguyên nhân chính khiến lãi suất trên LNH tăng mạnh. Đây là biến động mang tính chất thời điểm nên chúng tôi cho rằng lãi suất này sẽ sớm giảm về vùng 3.5%/năm, chênh lệch lãi suất VND-USD duy trì ở mức 1.4%/năm.

Lãi suất huy động trên thị trường 1 cũng tăng nhiệt trong một vài tuần gần đây khi số lượng các NHTM đưa ra mức lãi suất cao với các kỳ hạn dài đang tăng lên, mức lãi suất từ 8%-8.5%/năm với kỳ hạn 12 tháng và lên trên 9% với các kỳ hạn từ 24 tháng trở lên thông qua sản phẩm chứng chỉ tiền gửi. Hầu hết các NHTM áp dụng lãi suất huy động tốt hơn đối với khách hàng cá nhân. Với đối tượng khách hàng tổ chức, chúng tôi nhận thấy lãi suất có nhích tăng chút ít ở nhóm NHTMCP nhỏ nhưng giảm nhẹ ở nhóm SOBs và các NHTMCP lớn, ở mức 4.3-5.5%/năm với kỳ hạn dưới 6 tháng, 5.5-7.5%/năm với kỳ hạn 6 đến dưới 12 tháng và 6.4-8.1%/năm với kỳ hạn 12-13 tháng.

Theo số liệu từ NHNN, trong tổng mức tăng trưởng tín dụng 7.36% của 6 tháng đầu năm 2019, nhóm các hoạt động dịch vụ khác vẫn là nhóm tăng trưởng mạnh nhất (9.07%), mảng tín dụng tiêu dùng cũng được xếp trong nhóm này. Lãi suất huy động thời gian tới sẽ tiêp tục phân hóa mạnh, phụ thuộc vào tỷ trọng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn và cơ cấu tín dụng của từng ngân hàng, chênh lệch giữa các nhóm ngân hàng với tiền gửi cùng kỳ hạn bị dãn rộng ra.

Lãi suất đi ngang

Thị trường trái phiếu

Lợi tức TPCP tiếp tục giảm mạnh trên cả sơ cấp và thứ cấp

Sau tháng 7 khá sôi nổi với 36 nghìn tỷ đồng gọi thầu và 32.081 tỷ đồng được phát hành trên sơ cấp, KBNN giảm mạnh lượng gọi thầu xuống chỉ còn 11.5 nghìn tỷ đồng trong tháng 8. Nguồn cung hạn chế trong khi nhu cầu nắm giữ TPCP gia tăng theo tốc độ mở rộng quy mô của các NHTM và xu hướng dịch chuyển tài sản đầu tư trong bối cảnh rủi ro tăng lên khiến cho lượng đăng ký mỗi phiên luôn gấp từ 4-5 lần lượng gọi thầu và lãi suất trúng thầu liên tục giảm. Tổng lượng TPCP đã phát hành trong tháng 8 là 10.848 tỷ đồng, tương đương 94% lượng gọi thầu, là mức cao nhất tính theo tháng kể từ đầu năm tới nay; lãi suất trúng thầu giảm từ 16-26bps trong tháng 8, hiện ở mức 3.3%, 3.75%, 4.18%, 4.46%, 5.06% và 5.35% với các kỳ hạn 5,7,10,15, 20 và 30 năm.

Theo thông tin từ Bộ Tài chính, giải ngân vốn đầu tư công 8 tháng đầu năm 2019 là hơn 161 nghìn tỷ đồng, tương ứng mức 37.9% và 41.4% kế hoạch do Quốc Hội và Chính Phủ giao – thấp hơn mức 44.2% và 45.6% của cùng kỳ 2018. Tiến độ giải ngân vốn chậm làm giảm nhu cầu huy động vốn của KBNN. Tính chung 8 tháng, KBNN đã phát hành 148 nghìn tỷ đồng, tương đương 57% kế hoạch cả năm và cao hơn 39.6% so với cùng kỳ 2018. Tuy nhiên, lượng TPCP đáo hạn trong 8M2019 ước tính hơn 102 nghìn tỷ – gấp tới 3.8 lần so với 8M2018. Vì vậy, lượng TPCP phát hành ròng (phát hành mới trừ đáo hạn) trong 8M2019 chỉ là gần 46 nghìn tỷ đồng, chỉ bằng khoảng 58% so với cùng kỳ 2018

Lãi suất trúng thầu

Lợi tức TPCP trên thứ cấp diễn biến tương đồng với sơ cấp khi giảm ở tất cả các kỳ hạn. Mức lãi suất các kỳ hạn 1 năm, 3 năm, 5 năm, 10 năm và 15 năm lần lượt là 2.68%, 2.89%, 3.27%, 4.13% và 4.44%; giảm tương ứng 17bps, 21bps, 73bps, 29bps và 26bps. Thanh khoản thị trường tăng mạnh với tổng giá trị giao dịch đạt 218.4 nghìn tỷ đồng, tăng 13% MoM và ở mức cao nhất tính theo tháng kể từ tháng 5/2018 đến nay.

Mặc dù có 2 tuần bán ròng nhưng tính chung cả tháng, khối ngoại vẫn mua ròng 515 tỷ đồng, đánh dấu tháng thứ 8 mua ròng liên tiếp với tổng giá trị mua ròng 8M2019 là 12.9 nghìn tỷ đồng.

Lợi tức trái phiếu

Thị trường chứng khoán

Căng thẳng thương mại Mỹ – Trung leo thang và rủi ro toàn cầu gia tăng là câu chuyện xuyên suốt thị trường trong tháng. S&P 500 và Shanghai Composite giảm lần lượt 1.87% MoM và 1.6% MoM. Thống kê trong tháng 8, 70% số phiên giao dịch chỉ số VN Index vận động đồng pha với S&P 500, điều này ảnh hưởng không nhỏ tới diễn biến của chỉ số trong bối cảnh thị trường Mỹ thiếu đi động lực tăng điểm

Vnindex và SP500

Khối ngoại bán ròng hơn 1.73 nghìn tỷ đồng qua kênh khớp lệnh trên sàn HOSE, trái ngược với trạng thái mua ròng 2.34 nghìn tỷ đồng trong tháng 7. Tỷ trọng giao dịch của NĐTNN trên toàn thị trường trong tháng 8 chỉ đạt 11.8%, tương ứng với tháng giảm thứ 3 liên tiếp và là mức thấp nhất ghi nhận trong năm 2019.

Khối ngoại tập trung bán ròng đối với VJC (-1,021 tỷ đồng), đứng tiếp theo là các cổ phiếu HPG (-521 tỷ đồng), VRE (-247 tỷ đồng), VCB (-162 tỷ đồng). Ở chiều ngược lại, VIC dẫn đầu nhóm mua ròng với quy mô 1.06 nghìn tỷ đồng, trong đó 88% GT đến từ kênh GDTT.

dh1904.png

Giao dịch qua kênh ETF chững lại. Thống kê đối với 4 quỹ ETF (VFMVN30, DB FTSE, Van Eck ETF và Premia ETF), tổng giá trị bán ròng đạt 993 tỷ đồng trong tháng 8, cho thấy sự đảo chiều của dòng vốn ETF sau giai đoạn mua ròng mạnh kể từ đầu năm 2019. Quy mô bán ròng tập trung phần lớn đối với VFMVN30 (chiếm gần 46% giá trị).

Mặc dù đối mặt với không ít các yếu tố rủi ro, thị trường vẫn đón nhận một số động lực hỗ trợ cho xu hướng đi lên, bao gồm việc FED hạ lãi suất và HOSE xây dựng 3 chỉ số mới, dành cho các cổ phiếu hết room và ngành tài chính, tạo ra kỳ vọng xuất hiện dòng vốn mới từ các quỹ ETF đối với nhóm cổ phiếu này.

Cụ thể, HOSE đã công bố quy tắc xây dựng và quản lý dành cho Vietnam Diamond Index, Vietnam Leading Financial Index và Vietnam Select Sector Index.

Đối với Vietnam Diamond Index, đây là chỉ số hướng đến các cổ phiếu kín room nước ngoài. Bên cạnh các tiêu chí như vốn hóa, thanh khoản, chất lượng cổ phiếu, các cổ phiếu sẽ được xem xét về FOL (hệ số giữa tỷ lệ nắm giữ hiện tại của NĐTNN so với tỷ lệ được phép nắm giữ của NĐTNN) và GTVH_ngm (Giá trị vốn hóa NĐTNN còn có thể mua được). Số cổ phiếu trong rổ tối thiểu là 10 và tối đa là 20.

Danh mục dự kiến VN diamond

Chịu ảnh hưởng từ hai nhóm yếu tố kể trên, VN Index quay trở lại với xu hướng giằng co, chỉ số hình thành các chuỗi tăng, giảm rõ rệt trong tháng. VN Index và VN30 Index không thay đổi nhiều về mặt điểm số nếu so sánh với thời điểm cuối tháng 7. Cụ thể, VN Index giảm 0.8% về 997.39 điểm trong khi VN30 Index tăng hơn 1% lên 892.5 điểm.

Diễn biến Vnindex tháng 9

Bước sang tháng 9, thị trường vẫn sẽ tiếp tục đối mặt với nhiều biến số phức tạp, như giao dịch của NĐTNN hay các yếu tố vĩ mô. Các thông tin vĩ mô quốc tế đang trở nên khả quan hơn nếu so sánh với tháng 8 khi Mỹ và Trung Quốc vừa xác nhận quay trở lại đàm phán vào tháng 10 tới. Hơn nữa, FED đang được kỳ vọng giảm lãi suất trong cuộc họp diễn ra trong hai ngày 17 và 18/09/2019

Các yếu tố mang tính chất nội tại như KQKD Quý 3 ước tính của các doanh nghiệp niêm yết, các thông tin mới liên quan đến bộ ba chỉ số mới của HOSE cũng sẽ hỗ trợ tâm lý thị trường.

Sự kiện quan trọng nhất trong tháng 9, đồng thời ảnh hưởng tới sự phát triển dài hạn của TTCK Việt Nam là kết quả phân loại thị trường của FTSE.

Hiện tại, Việt Nam đang nằm trong watchlist nâng hạng được FTSE cân nhắc đưa vào nhóm Secondary Emerging, cùng với Argentina và Romania. Theo báo cáo đánh giá giữa kỳ hồi tháng 3/2019, cả 3 quốc gia vẫn đạt tất cả các tiêu chí xếp loại.

So sánh một cách tương đối, Kuwait có giá trị vốn hóa bằng 1/2 Vietnam đã thu hút được 950 triệu USD vốn từ các quỹ thụ động sau khi nâng hạng. Tuy nhiên, các cổ phiếu niêm yết của Việt Nam chịu nhiều hạn chế về room nước ngoài nên khả năng thu hút vốn sẽ khó trong ngắn hạn nhưng sẽ mở dần cùng với lộ trình nới room và thoái vốn Nhà nước của các doanh nghiệp

Trong trường hợp Việt Nam được nâng hạng, các cổ phiếu của Việt Nam sẽ được thêm vào danh mục của bộ chỉ số FTSE Global Equity Index. Hiện có hơn 70 cổ phiếu đạt các tiêu chí này, tuy nhiên phần lớn sẽ nằm trong nhóm Small-cap hoặc Micro-cap không được hưởng lợi nhiều từ dòng vốn ETF. Để đón nhận dòng vốn ETF dồi dào, các cổ phiếu cần vào được nhóm mid-cap, tương đương top 90% về vốn hóa của cả thị trường EM. Các cổ phiếu được hưởng lợi nhiều nhất khả năng sẽ là các cổ phiếu dẫn đầu có dư room nước ngoài như VIC, VNM, VHM, NVL, VCB, VRE, VJC, HPG, POW, BVH và PLX.

Nguồn: SSI

BÌNH LUẬN()

Bài viết mới đăng

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

TƯ VẤN CHỨNG KHOÁN

Tầng 21 Tòa nhà VCCI 09 Đào Duy Anh, Đống Đa, Hà Nội.

0916 766 323

dautuphatdat@gmail.com | 0916 766 323

Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Nguyễn Đức Hùng

Bản quyền thuộc về Đầu Tư Phát Đạt

0916 766 323