SELECT MENU

Các loại chi phí dưới góc nhìn của Warren Buffett

Lượt xem: 109 - Ngày:

Phần trước chúng ta đã tìm hiểu cách Buffett đọc một số mục về doanh thu của báo cáo tài chính. Ở phần này, chúng ta sẽ đi tiếp tục đi tìm hiểu vào cách Buffett phân tích các loại chi phí của doanh nghiệp thông qua báo cáo kết quả kinh doanh. Các loại chi phí chúng ta cùng nghiên cứu là chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí bán hàng và chi phí nghiên cứu và phát triển.

Đầu tiên là chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.

Trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, mục Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp là nơi công ty ghi nhận chi phí bán hàng trực tiếp, gián tiếp và tất cả các chi phí quản lý phát sinh suốt kỳ kế toán. Các chi phí này bao gồm lương quản lý, chi phí quảng cáo, chi phí đi lại, lệ phí pháp lý, hoa hồng, tất cả chi phí lương và những khoản tương tự.

Với một công ty như Coca-Cola, các chi phí này lên đến hàng tỷ USD và có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả kinh doanh cuối cùng của công ty. Tỷ lệ của chi phí này so với lợi nhuận gộp dao động rất mạnh theo từng doanh nghiệp. Thậm chí chúng còn biến thiên với các công ty có lợi thế cạnh tranh bền vững nhưu Coca-Cola. Coca-Cola đều đặn chi phí bình quân 59% lợi nhuận gộp cho chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp. Một công ty như Moody’s dành bình quân 25% còn với Procter & Gamble là 61%. “Sự nhất quán” chính là từ khóa quan trọng.

Các công ty không có lợi thế cạnh tranh bền vững phải chịu sự cạnh tranh khắc nghiệt và cho thấy sự dao động rất lớn trong tỷ lệ chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp so với lợi nhuận gộp. Trong hơn 5 năm qua, GM đã chi từ 28% lên đến 83% lợi nhuận gộp cho chi phí này. Tỷ lệ của Ford cũng tăng từ 89% lên đến 780%, điều đó có nghĩa là họ đang mất rất nhiều tiền. Doanh số bắt đầu sụt giảm, nghĩa là lợi nhuận giảm nhưng chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp vẫn như cũ. Nếu công ty không thể cắt giảm chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp theo cùng tốc độ đó, chúng sẽ bắt đầu ngày càng ăn mòn lợi nhuận gộp của công ty.

Trong cuộc tìm kiếm công ty có lợi thế cạnh tranh bền vững, chi phí bán hàng và quản lý doang nghiệp của công ty càng thấp càng tót. Nếu các chỉ tiêu có thể luôn duy trì ở mức thấp rất tốt. Trong thế giới kinh doanh ngày nay, nếu chi phí này dưới 30% được xem là tuyệt vời. Tuy nhiên, chi phí này của một số công ty có lợi thế cạnh tranh bền vững cũng như trong khoảng 30% đến 80%. Nhưng nếu chúng ta thấy một công ty biểu hiện lặp đi lặp lại chi phí này gần 100% hoặc vượt quá 100% có nghĩa là chúng ta có thể đang giao dịch với một công ty thuộc ngành có tính cạnh tranh, khi không doanh nghiệp nào có lợi thế cạnh tranh bền vững.

Ngoài ra cũng có các công ty có các chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp từ thấp đến trung bình nhưng các lợi thế kinh tế dài hạn tốt đẹp lại bị triệt tiêu bởi chi phí nghiên cứu và phát triển chi phí vốn quá cao, cũng như chi phí lãi vay cho các khoản nợ quá cao.

Intel là một ví dụ hoàn hảo về một công ty có tỷ lệ chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp so với lợi nhuận thuần thấp, nhưng do công ty phải chịu chi phí nghiên cứu và phát triển cao nên xét về kinh tế dài hạn chỉ giảm còn ở mức trung bình. Tuy nhiên, nếu Intel dừng nghiên cứu và phát triển, hàng loạt sản phẩm hiện nay của họ sẽ bị lỗi thời trong vòng mười năm và công ty sẽ phải đóng cửa.

Goodyear Tire có chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp chiếm 72% lợi nhuận gộp, nhưng chi phí vốn công với chi phí lãi vay cao – do công ty sử dụng nợ để tài trợ chi phí vốn – đang đưa những nhà sản xuất lốp xe vào cảnh thiếu hụt mỗi khi có khủng hoảng xảy ra. Nhưng nếu Goodyear không vay thêm nợ để thực hiện đầu tư và cải tiến, công ty sẽ không còn giữ được tính cạnh tranh lâu dài.

Warren đã học cách tránh xa những công ty đang khốn khổ vì có chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp luôn được duy trì ở mức cao. Ông cũng biết rằng lợi thế kinh tế của các công ty có chi phí bán hàng và quản lý thấp cũng có thể bị triệt tiêu bởi chi phí nghiên cứu và phát triển đắt đỏ, chi phí vốn cao và/hoặc rất nhiều nợ. Ông tránh xa các dạng doanh nghiệp này bất kể giá cả thế nào, vì ông biết rằng các lợi thế kinh tế dài hạn, cố hữu của họ rất hạn chế nên thậm chí cổ phiếu được bán với gái thấp cũng không thể giúp nhà đầu tư tránh khỏi các kết quả tồi tệ suốt đời.

Chi phí nghiên cứu vài phát triển: Tại sao warren không thích mục này

Đây là một vấn đề lớn trong trò chơi nhận diện các công ty có lợi thế cạnh tranh bền vững. Nhưng gì có vẻ là một lợi thế cạnh tranh dài hạn thường là lợi thế có được nhờ bằng sáng chế hoặc một số cải tiến công nghệ. Nếu lợi thế cạnh tranh được tạo ra bởi bằng sáng chế, như với các công ty dược phẩm, tại một thời điểm nào đó bằng sáng chế sẽ hết hạn và lợi thế cạnh tranh của công ty sẽ biến mất.

Nếu lợi thế cạnh tranh là kết quả của một số tiến bộ kỹ thuật lại luôn bị đe dọa thay thế bởi công nghệ mới hơn. Đây là lý do tại sau Microsoft rất lo ngại các tiến bộ kỹ thuật của Google. Lợi thế cạnh tranh hôm nay có thể sẽ kết thúc và trở thành lỗi thời của ngày mai.

Không chỉ phải chi một khoản tiền lớn cho việc nghiên cứu và phát triển mà vì còn phải liên tục đưa ra sản phẩm mới nên các công ty cũng phải tái thiết kế và cập nhật các chương trình bán hàng của mình. Điều đó có nghĩa là họ cũng phải dành rất nhiều tiền cho chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp. Bạn hãy xem thử các con số sau đây: Merck phải chi 29% lợi nhuận gộp cho nghiên cứu và phát triển và 49% lợi nhuận gộp cho chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp, như vậy tổng cộng lên đến 78% lãi gộp. Còn nữa, nếu Merck&Co thất bại trong việc phát minh loại thuốc mới được bán với giá hàng tỷ USD, công ty sẽ mất đi lợi thế cạnh tranh khi các bằng sáng chế hiện tại hết hạn.

Khi là công ty dẫn đầu trong lĩnh vực công nghệ phát triển nhanh, Intel cũng phải luôn chi khoảng 30% lợi nhuận gộp cho chi phí nghiên cứu và phát triển; nếu không, công ty sẽ mất lợi thế cạnh tranh chỉ trong một vài năm.

Công ty đánh giá trái phiếu Moody’s xứng đáng là công ty yêu thích của Warren trong một thời gian dài. Moody’s không có chi phí nghiên cứu và phát triển, và trung bình chỉ dành 25% lợi nhuận gộp cho chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp. Coca-Cola cũng không có chi phí nghiên cứu và phát triển nhưng phải chi rất nhiều tiền cho quảng cáo, trung bình vẫn dành đến 59% lợi nhuận gộp cho chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp. Với Moody’s và Coca-Cola, Warren không phải thức giấc lúc nửa đêm lo ngại rằng một số bằng sáng chế thuốc sắp hết hạn hoặc công ty không chiến thắng trong cuộc chạy đua đến bước đột phá và công nghệ tiếp theo.

Đây là quy luật của Warren: Các công ty phải chi nhiều tiền cho nghiên cứu và phát triển có nhược điểm cố hữu trong lợi thế cạnh tranh sẽ luôn đặt ưu thế kinh tế lâu dài của công ty vào rủi ro, nghĩa là các ưu thế kinh tế đó không phải là lợi nhuận chắc chắn.

Và nếu đó không phải là một lợi thế chắc chắn Warren không quan tâm đến công ty đó.

Vậy là chúng ta đã nghiên cứu về ba loại chi phí dưới góc nhìn của Buffett, ở bài tiếp theo sẽ là về một loại chi phí vô hình nhưng không thể bỏ qua, đó là khấu hao.

Nguồn: Báo cáo tài chính dưới góc nhìn của Warren Buffett

BÌNH LUẬN()

Bài viết mới đăng

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

TƯ VẤN CHỨNG KHOÁN

Tầng 21 Tòa nhà VCCI 09 Đào Duy Anh, Đống Đa, Hà Nội.

0916 766 323

dautuphatdat@gmail.com | 0916 766 323

Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Nguyễn Đức Hùng

Bản quyền thuộc về Đầu Tư Phát Đạt

0916 766 323