SELECT MENU

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh – Nơi Buffett bắt đầu, phần 2

Lượt xem: 97 - Ngày:

Tiếp theo phần 1, trong bài này chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu về các công cụ giúp Warren trong việc tìm kiếm các doanh nghiệp tuyệt vời để đầu tư.

Lợi nhuận gộp/tỷ suất lợi nhuận gộp: các công cụ chính của warren trong cuộc tìm kiếm mỏ vàng dài hạn.

Bây giờ, nếu chúng ta lấy Tổng doanh thu của công ty trừ đi số tiền được ghi nhận là Giá vốn hàng bán, chúng ta sẽ có Lợi nhuận gộp.

Lợi nhuận gộp là số tiền còn lại của tổng doanh thu sau khi trừ đi chi phí nguyên vật liệu và tiền công lao động được sử dụng để làm ra hàng hóa. Nó không bao gồm các mục như chi phí bán hàng và chi phí quản lý, khấu hao và chi phí lãi vay để doanh nghiệp hoạt động.

Bản thân lợi nhuận gộp mang đến rất ít thông tin, nhưng chúng ta có thể sử dụng con số này để tính tỷ suất lợi nhuận gộp của công ty, chính tỷ số đó mới cho chúng ta biết nhiều về đặc tính kinh tế cảu công ty.

Phương trình xác định Lợi nhuận gộp như sau:

Lợi nhuận gộp / Tổng doanh thu = Tỷ suất lợi nhuận gộp

Quan điểm của Warren là tìm kiếm các công ty sở hữu một dạng lợi thế cạnh tranh bền vững nào đó – đây là các doanh nghiệp mà ông tin rằng có thể hưởng lợi trong dài hạn. Ông đã nhận thấy rằng các công ty có lợi thế kinh tế dài hạn tuyệt vời đang kinh doanh trong lĩnh vực quen thuộc có xu hướng có được tỷ suất lợi nhuận gộp ổn định cao hơn những câu ty không có lợi thế. Chúng ta hãy xét ví dụ sau:

Tỷ suất lợi nhuận gộp của các công ty mà Warren đã xác định được là có lợi thế cạnh tranh bền vững bao gồm: Coca-Cola thể hiện một tỷ suất lợi nhuận gộp ổn định khoảng 60% hoặc cao hơn; công ty đánh giá trái phiếu công ty là Moody’s là 73%; Burlington Northern Santa Fe Railway 61% và công ty sản xuất kẹo cao su Wrigley 51%.

So sánh các doanh nghiệp tuyệt vời này với một vài công ty mà chúng ta biết là có nền kinh tế dài hạn không tốt, chẳng hạn nhưu doanh nghiệp trên bờ vực phá sản United Airlines, với tỷ lệ lợi nhuận gộp 14%; nhà sản xuất xe hơi gặp nhiều khó khăn General Motors có tỷ lệ yếu kém 21%; doanh nghiệp đã từng gặp khó khăn nhưng hiện đang có lãi U.S Steel có lợi nhuận không quá tốt 7%; và Goodyear Tire – Vốn quảng cáo là hoạt động trong mọi thời tiết, nhưng trong một nền kinh tế xấu cũng vướng ở tỷ lệ không được ấn tượng cho lắm là 20%.

Trong thế giới công nghệ – một lĩnh vực mà Warren tránh xa vì không thông hiểu – Microsoft đã thể hiện một tỷ suất lợi nhuận gộp ổn định ở mức 79%, trong khi Apple Inc. chỉ có 33%. Các tỷ lệ này cho thấy rằng Microsoft bán các hệ điều hành và phần mềm mang lại lợi ích kinh tế tốt hơn Apple bán phần cứng và dịch vụ.

Chính lợi thế cạnh tranh bền vững của công ty đã giúp tạo ra tỷ suất lợi nhuận cao, lợi thế này cho phép công ty tự do định giá các sản phẩm và dịch vụ cung cấp cao hơn nhiều so với giá vốn hàng bán. Khi không có lợi thế cạnh tranh, các công ty phải cạnh tranh bằng cách giảm giả sản phẩm hoặc dịch vụ đang chào bán. Tất nhiên, sự sụt giảm này làm giảm tỷ suất lợi nhuận của công ty và do đó lợi nhuận cũng giảm.

Có một quy luật chung (và cũng có ngoại lệ) là các công ty có tỷ suất lợi nhuận gộp là 40% hoặc cao hơn có xu hướng là những công ty có lợi thế cạnh tranh bền vững. Các công ty có tỷ suất này thấp hơn 40% thường thuộc các ngành có tính cạnh tranh cao, nơi mà sự cạnh tranh đe dọa tỷ suất lợi nhuận tổng thể (cũng có những trường hợp ngoại lệ). Tỷ suất lợi nhuận gộp nhỏ hơn hoặc bằng 20% thường là dấu hiệu của một ngành có sự cạnh tranh gay gắt, khi không công ty nào có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững hơn các đối thủ. Và một công ty thuộc ngành có sự cạnh tranh gay gắt, lại không có lợi thế cạnh tranh và không kinh doanh trong lĩnh vực quen thuộc, sẽ không bao giờ giúp chúng ta giàu có trong dài hạn.

Trong khi việc đánh giá tỷ suất lợi nhuận gộp không đảm bảo an toàn chắc chắn nó lại là một trong những chỉ số đầu tiên cho thấy công ty đang được xem xét có lợi thế cạnh tranh dài hạn nhất quán hay không. Warren rất nhấn mạnh từ “bền vững”, và để an toàn, chúng ta nên theo dõi tỷ suất lợi nhuận gộp hàng năm trong suốt mười năm vừa qua để chắc chắn có “sự nhất quán”. Warren biết rằng trò chơi tìm kiếm các công ty có lợi thế cạnh tranh bền vững có tên là “sự nhất quán”.

Hiện nay một số công ty có tỷ suất lợi nhuận gộp cao có thể đi chệch theo một số hướng và bị mất đi các lợi thế cạnh tranh dài hạn. Thứ nhất là chi phí nghiên cứu quá lớn, tiếp theo là chi phí bán hàng và quản lý lớn và thứ ba là chi phí tiền lãi cao. Bất kỳ một trong ba chi phí này đều có thể hủy diệt ưu thế kinh tế dài hạn của một doanh nghiệp. Chúng được gọi là chi phí hoạt động kinh doanh và là những cái gai bên trong mỗi doanh nghiệp.

Chi phí hoạt động kinh doanh: chỉ tiêu được Warren chú ý khá kĩ

Ngay dưới mục Lợi nhuận gộp trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một nhóm chi phí, được gọi là chi phí từ hoạt động kinh doanh.

Đây là toàn bộ chi phí cố định (hard cost) của công ty bao gồm chi phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới (đây là theo tiêu chuẩn kế toán nước ngoài, ở Việt nam khoản mục này ở bảng báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính), chi phí bán hàng và quản lý để đưa sản phẩm ra thị trường, khấu hao và phân bổ, chi phí tái cấu trúc và thay thế và chi phí khác bao gồm các chi phí không thuộc hoạt động kinh doanh và không lặp lại định kỳ.

Tất cả các mục này được tổng hợp lại tạo nên tổng chi phí hoạt động kinh doanh của công ty, sau đó lấy lợi nhuận gộp trừ đi con số này chúng ta sẽ biết con số lời hay lỗ từ hoạt độn kinh doanh. Vì tất cả các mục này đều có tác động đến đặc tính kinh tế dài hạn của doanh nghiệp, tốt nhất là chúng ta sẽ dành phần lớn nội dung trong phần tiếp theo để xem xét từng mục theo cách của Warren Buffet.

Nguồn: Báo cáo tài chính dưới góc nhìn của Warren Buffett

BÌNH LUẬN()

Bài viết mới đăng

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

TƯ VẤN CHỨNG KHOÁN

Tầng 21 Tòa nhà VCCI 09 Đào Duy Anh, Đống Đa, Hà Nội.

0916 766 323

dautuphatdat@gmail.com | 0916 766 323

Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Nguyễn Đức Hùng

Bản quyền thuộc về Đầu Tư Phát Đạt

0916 766 323